Showing posts with label Thắng cảnh tâm linh. Show all posts
Showing posts with label Thắng cảnh tâm linh. Show all posts

Wednesday, February 25, 2015

Đình Tây Hạ ở Vĩnh Phúc

Lập Thạch là vùng đất cổ thuộc tỉnh Vĩnh Phúc. Những dấu ấn tín ngưỡng nguyên thủy của cư dân bản địa qua trường kỳ lịch sử hiện nay còn xuất hiện với mật độ dày đặc. Trước khi tách huyện Sông Lô thành huyện riêng, toàn huyện Lập Thạch có ít nhất 22 làng, thôn thờ tới 79 vị thần núi, thần sông; nhiều tín ngưỡng cổ: Thờ thần đá, thần cây, thần sông, thần núi… một vài nơi còn tồn tại việc thờ cúng các vật tính giao (một loại hình tín ngưỡng cũng rất cổ).

Lập Thạch có trên 100 di tích lịch sử văn hóa ở khắp các xã, thị trấn, trong đó có 25 di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia và cấp tỉnh; có mật độ di tích đã được xếp hạng dày nhất tỉnh Vĩnh Phúc. Đình Tây Hạ là di tích cấp quốc gia đã được xếp hạng, thuộc thôn Tây Hạ, xã Bàn Giản. Đình thờ Định Xá Đại Vương, được phong làm “Bản cảnh Thành hoàng” của làng Tây Hạ.

Định Xá Đại Vương hay Trương Định Xá là nhân vật thời Hùng Duệ Vương, nguyên quê quán ở Gia Cát – Bạch Hạc, phủ Tam Đới, đạo Sơn Tây nay thuộc Việt Trì. Bố có tên là Trương Bang, mẹ là Phùng Thị Nhiễu. Cả hai ông bà đều làm nghề chở đò và đánh cá. Do siêng năng làm ăn và tích cực làm việc thiện nên dần trở nên giàu có. Nhưng ngoài 40 tuổi mà vẫn chưa có con trai; ông bà đi khắp nơi cầu đảo.

Một lần, sau khi cầu đảo ở chùa Tây Thiên về thì gặp gió to trên sông Đáy nên nán lại một ngôi miếu, tức là ngôi miếu cạnh chùa Tây Hạ hiện nay, ở đó bà gặp điềm lành về nhà bà Trương có thai, đến ngày mồng 7 tháng giêng năm Quý Tỵ (Năm 328- TCN) thì sinh được một con trai, đặt tên là Định Xá. Khi lớn lên, do có tài văn và võ, nên Định Xá được vua Hùng Duệ Vương tuyển dụng và phong làm Chỉ huy sứ Tả tướng.

Trong cuộc đời làm tướng, Định Xá có hai chiến công lớn: một là, được vua Hùng Duệ Vương cử cho làm lầu kén rể ở cửa sông, trước cửa thành Việt Trì. Hai  là, khi Thục Phán mạnh lên, thôn tính đất đai của Vua Hùng,  Định Xá được cử làm tướng tiên phong đi dẹp nhà Thục. Khi đi đến đầu khu Tây Hạ bèn cùng sĩ tốt và nhân dân lập một đồn để phòng Thục. Sau đó, Định Xá triệu tập phụ lão tới hội nghị. Trong lần gặp ấy, phụ lão khu Tây Hạ kể lại 30 năm về trước có vợ chồng thuyền chài đi cầu đinh vì gặp mưa to gió lớn đã tạt vào miếu nơi đây nán nhờ, từ đó không thấy quay lại đây. Định Xá nói “Việc đó chính là chuyện của ta đây”.

Nghe vậy các phụ lão đều đồng lòng giúp cho Định Xá, nhờ vậy mà ông đã chọn được 35 người ở làng này làm tướng dưới quyền. Sau đó thì tiến hành cuộc bình Thục. Trong một trận chiến đấu quyết liệt ở chân núi Sóc Sơn, quân sĩ đã quá mệt mỏi, đói khát, thế trận gần như tan rã. Định Xá chỉ còn biết ngửa mặt lên trời cầu nguyện thì may đâu bầu trời bỗng nhiên đen kịt, tối tăm, mưa như trút nước. Nhờ cơn mưa đó, tinh thần quân sĩ hồi phục, người người dừng cơn khát, khí thế lại bừng bừng, do vậy mà đã chiến thắng quân Thục. Sau chiến công ấy các vị phụ lão khu Tây Hạ xin mãi mãi về sau dân làng được làm việc dưới trướng tướng quân Định Xá. Tướng quân cho khu Tây Hạ 30 hốt vàng bạc để mua ruộng, mua ao.

Tin thắng trận ấy đến nhà Vua, Hùng Duệ Vương liền ban thưởng cho tướng sĩ Định Xá và phong thực ấp cho ông ở huyện Lập Thạch ngày nay. Định Xá vâng mệnh vua, ông đến khu Tây Hạ thấy thế đất ở đây thực là một mạch sơn thủy vòng quanh, rồng chầu hổ phục, núi không cao mà nước chảy quanh vòng, giếng không sâu mà đủ nước dùng quanh năm nên đã đặt bản doanh ở đây, khi sống thì đặt sinh từ, khi chết thì làm nơi tế tự. Về sau các triều đình đều có phong tặng. Khi Đinh Tiên Hoàng lên ngôi hoàng đế đã tặng phong “Bản cảnh Thàng hoàng Định Xá tế thế, hộ quốc khang dân, phù vận, uy linh đại vương”. Tặng phong Thông minh, chính trực. Từ đó về sau trở nên linh ứng, các đế vương đều gia phong chữ đẹp.

Tưởng nhớ đến công lao của ông trong việc bảo vệ đất nước và có công với làng Tây Hạ nên nhân dân đã lập ngôi đình để thờ phụng vị quan chỉ huy sứ Tả tướng thời Hùng Duệ Vương. Nơi đây hàng năm tổ chức nhiều lễ hội, và đặc biệt ở nơi đây còn có tục kiêng kỵ các tên như: Định, Xá…đều nhằm mục đích duy nhất là tôn thờ Đức Thánh Đại Vương Định Xá, suốt hơn 2.200 năm.

Đình Tây Hạ được cho là xây dựng trước đời Cảnh Hưng thứ 15 (1754) hoặc muộn nhất cũng vào đầu thế kỷ thứ XVII. Khi mới xây dựng đình chỉ có đại đình với gác thượng cung của gian giữa, còn hậu cung được lập vào thế kỷ XIX(1868). Đình Tây Hạ được xây dựng và tu sửa 3 lần lớn vào các năm 1754, 1860 và 1868. Do có ba thời điểm xây dựng và tu sửa nên nhìn chung kiến trúc và nghệ thuật điêu khắc cũng có ba đặc điểm khác nhau, nhưng có tính kế thừa truyền thống kiến trúc và nghệ thuật điêu khắc của dân tộc. Ngày nay, đình còn lưu giữ được những cột, vì kèo, trạm trổ điêu khắc từ lúc lập đình như: Đầu dư phía ngoài cột ở bên giữa gian trái, xà ngang phía dưới của thượng điện… Tất cả các bộ phận này đều có màu gỗ cũ nhất đình với kỹ thuật tinh vi, còn lại đa số các bức trạm chổ, điêu khắc và di vật bằng gỗ chủ yếu mang yếu tố nghệ thuật thời Hậu Lê ở giai đoạn cuối.

Kiến trúc đình Tây Hạ hiện nay có kiểu chữ Đinh, tọa lạc ở đầu làng Tây Hạ. Cổng đình được tạo dựng với hai cột đồng trụ và hai cánh phượng hai bên; bên trên có xây đắp thành hình lồng đèn. Qua cổng đình là sân đình rộng thoáng. Nếu đứng ở giữa sân đình quan sát mặt chính điện, thì thấy đình Tây Hạ là một ngôi đình cổ mang phong cách nghệ thuật kiến trúc thời Hậu Lê, với các đầu đao cong vút, nhìn phía trước trông ngôi đình thấp nhưng rất bề thế trang nghiêm, trông như hình nấm. Nhìn tổng thể phía ngoài của ngôi đình trông rất đồ sộ, vững chắc, quy mô lớn. Mái đình lợp bằng ngói mũi hài, có tới hơn 10 loại ngói kích thước khác nhau Đi dọc theo phía hiên đình thấy trên các góc, các đầu dư của cột được trạm trổ những đề tài khác nhau như hoa lá, mây với những đường nét uyển chuyển rất đẹp mắt.

Điểm nổi bật nhất về nghệ thuật trong trang trí và điêu khắc của ngôi đình là chính điện có bộ cửa võng. Bộ cửa võng chia làm ba lớp. Trên cùng của cửa võng là bức trạm điêu khắc gỗ mặt hổ phù miệng ngậm chữ thọ với kỹ thuật trạm trổ tinh vi trông nghiêm nghị nhưng vẫn toát ra được ý nghĩa khuyên người ta làm điều thiện sẽ được sống lâu. Đến phía dưới chính điện có treo bức hoành phi sơn son thếp vàng có đục khắc ở giữa có 4 chữ đại tự “ lộc thọ phú quý”. Nội dung bức trạm là các đề tài tiên rồng, và bông lúa.

Trên các cột trụ có khắc chạm một con rồng ở tư thế bò từ trên xuống, uốn vòng quanh cột trụ theo chiều thẳng đứng, trên đỉnh đầu rồng chạm khắc một tiên ông ở cột trụ bên phải và chạm tiên nữ ở cột trụ phía trong. Bộ cửa võng ở đình Tây Hạ là biểu tượng tín ngưỡng cổ truyền của tiên và rồng hợp nhất thành một chỉnh thể cộng đồng người Việt cổ ở thời đại Văn Lang hay đây cũng là cách để giải thích về nòi giống con rồng cháu tiên của người Việt cổ. Bộ cửa võng như vậy vừa mang ý nghĩa xa xôi, sâu sắc, vừa có hình thức kỹ thuật tuyệt mỹ. Bên cạnh bộ cửa võng thì ở phía ngoài thượng điện có trạm khắc nhiều hình tượng như đôi rồng ở trên thanh xà, cụm hoa lá ở trên các vì kèo, hay một con long mã; tất cả các bức trạm này đều mang tính nghệ thuật của triều Nguyễn.

Phía trong là hậu cung cũng chính là nơi linh thiêng của ngôi đình. Ở đây cũng có những trạm khắc độc đáo như ở ban tiền của hậu cung khắc bộ lưỡng long chầu nguyệt (nghệ thuật thời Nguyễn). Ở hai bên góc chạm hai con nghê mang tính nghệ thuật vào thời Hậu Lê. Ở bộ cửa cũng được chạm khắc hình tượng lưỡng long chầu nhật và lưỡng long chầu nguyệt được chạm trên nền hoa lá. Nơi đây đặt bộ long ngai - bài vị được đục trạm tinh vi, sơn son thếp vàng. Trên bài vị có ghi dòng chữ vàng: “Đức vua thông minh chính trực/Định Xá uy linh đại vương”. Ở các gian còn lại của ngôi đình cũng được trạm khắc các cụm hoa lá tinh tế.

Đình Tây Hạ có 91 hiện vật bằng gỗ, đồng, gốm sứ, da, vải và giấy được bảo lưu. Các hiện vật này đều làm vào triều Nguyễn và trong thời gian gần đây.

Với lối kiến trúc nghệ thuật thời Hậu Lê và thời Nguyễn, lại thờ Định Xá đại vương là tướng thời vua Hùng cùng với những giá trị về khoa học và nghệ thuật nên đình Tây Hạ là nơi cho những ai muốn tìm hiểu và nghiên cứu về lịch sử, về văn hóa cổ truyền, về kiến trúc cổ, nghệ thuật điêu khắc gỗ ở thế kỷ thứ XVII, XVIII và XIX. Những giá trị to lớn đó của đình Tây Hạ đã được nhà nước xếp hạng là Di tích cấp quốc gia vào ngày 21 tháng 01 năm 1992.

Ngày nay, Đình Tây Hạ đã và đang thu hút được lượng khách đông đảo tới tham quan, nghiên cứu không chỉ bởi những truyền thuyết về người tướng tài Định Xá hay bởi những bức trạm trổ nhiều ý nghĩa mà nơi đây còn giữ được những lễ hội, những trò chơi cổ truyền, những phong tục tập quán mà ít nơi giữ được, lại nằm gần cụm di tích Bàn Giản – nơi có lễ hội cướp phết diễn ra vào tháng giêng hàng năm thu hút hàng trăm người tham dự và hàng nghìn người tới xem.

Theo Du Lịch Vĩnh Phúc
Du lịch, GO!

Tuesday, February 24, 2015

Đầu xuân viếng 5 ngôi chùa cổ ở Sài Gòn

(PNO) - Viếng chùa ngày đầu năm là nét đẹp văn hóa tâm linh của người Việt trong Tết cổ truyền. Cũng như các miền khác, chùa Sài Gòn ngày đầu xuân luôn đông khách đến dâng hương, nhất là tại 5 ngôi chùa cổ nổi tiếng.
Những ngày đầu năm, nhiều ngôi chùa trong thành phố nhất là những ngôi chùa cổ luôn tấp nập khách thập phương đến vãn cảnh chùa, khấn cầu bình an và sức khỏe cho gia đình.

Tổ đình Giác Lâm

Đầu xuân, một trong những ngôi chùa Sài Gòn đông người đến viếng nhất là tổ đình Giác Lâm. Được xây dựng từ năm 1744, đến nay đã 270 năm, chùa Giác Lâm là ngôi chùa có lịch sử lâu đời nhất Sài Gòn, mang đặc trưng kiến trúc tôn giáo ở Nam Bộ. Đây là tổ đình của phái Thiền Lâm Tế tông ở miền Nam, với kiến trúc chữ Tam, gồm 3 dãy nhà ngang nối liền nhau: chính điện, giảng đường và trai đường.

Tổ đình tọa lạc tại đường Lạc Long Quân, có khuôn viên khá rộng, nhiều cây xanh thoáng mát. Với lịch sử lâu đời cùng kiến trúc tiêu biểu, đây là một trong những ngôi chủa rất nổi tiếng tại TP.HCM, dù là ngày thường hay mùng một, rằm đều đông người đến viếng.

Bước vào bên trong chùa, du khách cảm nhận được không gian hài hòa với thiên nhiên, sự u tịch của thiền môn. Trước chùa có Bảo tháp Xá Lợi hình lục giác, tầng 7 tháp thờ Xá Lợi Phật. Sân chùa có tượng Quán Thế Âm Bồ Tát dưới bóng cây bồ đề. Đây là cây bồ đề do Đại đức Narada mang từ Sri Lanka (Tích Lan) sang trồng vào năm 1953.

Hiện nay, chùa còn là một bảo tàng nhỏ, lưu giữ nhiều tác phẩm điêu khắc được chạm trổ tinh xảo. Chùa có 113 pho tượng cổ, hầu hết là bằng gỗ. Những cột chính bên trong điện đều được chạm khắc câu đối, thiếp vàng công phu.

Chùa Giác Viên

Cũng nằm trên đường Lạc Long Quân, lịch sử chùa Giác Viên (còn có tên là chùa Hố Đất) gắn liền với tổ đình Giác Lâm. Vị trí của chùa là nơi để gỗ trùng tu chùa Giác Lâm (năm 1798), ban đầu là am nhỏ, sau đó vài năm thì được xây thành chùa. Dulichgo

Giác Viên cũng là chùa cổ nổi tiếng tại TP.HCM, mang kiến trúc tương tự Giác Lâm, với Phật điện giữa chùa, hai bên là hai dãy nhà. Như những ngôi chùa lớn khác, khuôn viên chùa cũng có những dãy nhà phụ làm lớp học, trai đường, nhà bếp…

Chùa có 153 pho tượng, đa số bằng gỗ, vì là chùa cổ nên những tượng này cũng có lịch sử lâu đời, được xem là tương chân dung sớm ở Nam Bộ. Ngoài ra còn 57 bao lam (cửa võng) và 60 bức phù điêu, hầu hết đều là cổ vật quý.

Chùa Bà Thiên Hậu

Tọa lạc trên đường Nguyễn Trãi, chùa Bà Thiên Hậu (còn được gọi là chùa Bà Chợ Lớn) là một trong những ngôi chùa có lịch sử lâu đời nhất của người Hoa ở TP.HCM, được khởi công xây dựng từ khoảng năm 1760.

Chùa Bà Thiên Hậu mang đậm kiến trúc đặc trưng của người Hoa, được xây theo hình ấn, với 4 ngôi nhà liên kết nhau. Trải qua nhiều lần trùng tu, chùa vẫn giữ được kiến trúc này, từ thiết kế bên ngoài cho đến bài trí bên trong.

Là ngôi chùa cổ nổi tiếng nhất tại quận 5, chùa Bà Thiên Hậu hàng ngày vẫn đón tiếp người đến cúng lễ khá đông. Nhất là vào các ngày mùng một và rằm hàng tháng, các ngày lễ Tết trong năm của người Hoa như Tết Nguyên đán, Tết Nguyên tiêu, Tết Đoan Ngọ... Dulichgo

Lễ hội lớn nhất của chùa là lễ vía bà Thiên Hậu (23 tháng 3 Âm lịch) hàng năm, thu hút không chỉ người Hoa, người Việt ở TP.HCM mà còn ở các tỉnh về dự.

Chùa Phụng Sơn

Chùa Phụng Sơn tọa lạc trên đường 3 tháng 2 quận 11, do thiền sư Liễu Thông tạo lập vào đầu thế kỷ 19. Ban đầu chùa chỉ là am nhỏ, được xây trên gò đất cao nên được người dân quanh vùng gọi là chùa Gò. Tương truyền có một con chim phụng đến đậu trên cây ngô đồng trước am cất tiếng gáy, thiền sư cho đó là điềm lành nên đổi tên chùa là Phụng Sơn.

Năm 1904, am được xây cất lại. Trải qua hơn 200 năm, với 2 lần trùng tu lớn, chùa vẫn giữ kiến trúc cổ với khung gỗ và mái ngói âm dương. Chùa có 40 pho tượng sơn son thiếp vàng, trong đó có một số tượng quý như bộ Di Đà Tam Tôn, bộ Ngũ Hiền thượng kỳ thú, pho tượng Phật bằng đá, tượng Tiêu Diện...

Chùa Sùng Đức

Một ngôi chùa cổ khác cũng đông khách thập phương đến viếng đầu xuân là chùa Sùng Đức ở Thủ Đức. Chùa được xây dựng từ năm 1806, trải qua hơn 200 năm, chùa vẫn giữ được phong cách và kiểu dáng của ngôi chùa cổ với kiểu nhà tứ trụ cột gỗ, mái ngói âm dương, được xây theo thế chữ tam như trước kia.

Với lịch sử lâu đời, chùa hiện nay còn lưu giữ nhiều cổ vật quý như: đại hồng chung bằng đồng cao 1m30, tượng đức Phật Thích Ca bằng gỗ cao 1m30, chiếc trống cổ bằng gỗ dài 1m 34, 8 pho tượng cổ, 3 cặp liễn đối bằng gỗ quý… Ngoài cổ vật, chùa còn có nhiều hiện vật có giá trị nghệ thuật khác được các nghệ nhân điêu khắc, chạm trổ rất công phu.

Theo An Nguyễn (báo Phụ Nữ)
Du lịch, GO!

Monday, February 23, 2015

Ngôi đình 300 năm ở Bắc Giang

(VNE) - Tọa lạc tại Bắc Giang, Đình Vường có quy mô lớn và kết cấu khá hoàn hảo. Dù đã gần ba trăm năm tuổi, đình vẫn giữ nét đẹp nguyên sơ do chưa hề có một lần trùng tu nào lớn.
Đình Vường tọa lạc tại thôn Hậu, xã Liên Chung, huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang. Ngoài tên gọi theo làng, đình có tên chữ là Thịnh Vượng, do chữ làng Vường mà ra. Toàn bộ khu đình bao gồm các công trình đại đình và tả vu, hữu vu, sân, vườn, tam quan. Toà đại đình đặt trên đỉnh gò đồi, bố cục mặt bằng theo kiểu chữ công, gồm ba hạng mục: Đại đình, ống muông, hậu cung. Đại đình có ba gian hai chái.

Đình Vường được xây dựng trên một khu đồi nhỏ bên làng Vường, nhìn về hướng nam, phía trước là núi Dành, sau lưng là làng Hậu, bên trái là xóm Cống, bên phải là xóm Giữa. Cảnh quan đình thoáng đãng, đẹp đẽ.

Đình Vường thờ Đức thánh Cao Sơn - Quý Minh, hai vị thánh ngự trong cung cấm. Ba chữ phía trên là "Thượng Đẳng Thần".

Các bức cửa võng ở đình Vường chạm lộng đẹp lại xếp theo lối bình phong. Các đề tài trang trí rất phong phú theo phong cách dân gian hoa dây cách điệu. Có hai hạc thờ đứng trên lưng rùa ngoảnh cổ ra. Mỏ hạc chấm xà hạ đại đình.

Trong toà đại đình, hệ thống sàn, ván còn khá nguyên vẹn. Hai toà đại đình và hậu cung được ngăn cách bởi hệ thống cửa cấm đóng kín, chỉ mở khi làm lễ. Dulichgo

Hai gian bên đại đình có đôi ngựa hồng, ngựa bạch lớn đặt trên nền đá xanh ở gian giữa.

Phần liên kết các vì mái theo lối cổ truyền thống. Trên các vì nóc và vì nách có nhiều mảng phù điêu chạm lộng đẹp. Dulichgo

Nét độc đáo của đình Vường vượt trội các ngôi đình khác ở chỗ bộ khung gỗ còn khá chắc chắn và nguyên vẹn nét kiến trúc từ thời Lê và Nguyễn.

Ngoài giá trị về kiến trúc nghệ thuật, đình Vường còn ghi dấu nhiều sự kiện lịch sử gắn liền với nhân dân địa phương. Trong kháng chiến chống Pháp, đây là nơi liên lạc, hội họp của dân quân du kích địa phương quanh vùng Yên Thế hạ, liên quan chặt chẽ với căn cứ tiền tiêu núi Dành. Kháng chiến chống Mỹ, đình Vường là nơi cất giữ kho phim dự trữ quốc gia gần 10 năm.

Bốn đao đình và hai đầu nóc được kê xếp, đắp đặt các đao sành gốm bay vút lên như cánh diều no gió.

Cầu thang bằng đá nguyên khối khá độc đáo.

Theo Lê Bích (Vnexpress)
Du lịch, GO!

Chùa Một Cột ở Hải Phòng

Nhắc tới chùa Một Cột, nhiều người nghĩ ngay đến Chùa Mật hay còn có tên khác là Diên Hựu tự hoặc Liên Hoa Đài, nằm giữa lòng thủ đô Hà Nội. Tuy nhiên, ở Hải Phòng cũng có một ngôi chùa Một Cột khác nằm ở phường Dư Hàng Kênh, quận Lê Chân (TP.Hải Phòng) được nhiều du khách tìm đến trong dịp đầu xuân.

Vật liệu dựng chùa chủ yếu làm bằng gỗ lim còn cột trụ làm từ bê tông, chùa Phổ Chiếu tọa lạc giữa hồ nước rộng hơn 1 sào, xung quanh có liễu rủ. Đây là kiến trúc mô phỏng di tích chùa Một Cột ở Hà Nội, thờ Quán thế âm Bồ Tát.

Cùng với ao hình vuông phía dưới có thể là biểu tượng cho đất (trời tròn, đất vuông), ngôi chùa như vươn lên cái ý niệm cao cả: Lòng nhân ái soi tỏ thế gian. Dulichgo

Khối kiến trúc gỗ đá được phù trợ bởi cảnh quan, có ao, có cây cối đã tạo nên sự gần gũi, tinh khiết mà vẫn thanh lịch. Không chỉ ấn tượng với kiến trúc một cột, nhiều người đến với chùa Phổ Chiếu còn có thể chiêm ngưỡng tháp cửu phẩm màu vàng cao vút soi bóng xuống hồ Ông Báo.

Năm 1953, Sư Ngộ Chân Tử người làng Cao Mại, huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình đến đất này “trấn tích khai môn” xây dựng nên ngôi chùa và trụ trì tại đó. Lúc đầu, chùa được gọi là Tam Giáo đường, thờ Phật giáo, Nho giáo, Lão giáo, thể hiện khát vọng hòa hợp tôn giáo và sự hòa hợp dân tộc.

Đến năm 1954, Hòa thượng Thích Thanh Quang, thuộc Thiền phái Lâm Tế, từ chùa Vọng Cung – Nam Định về trụ trì. Ngài chỉnh sửa Tam Giáo đường thành ngôi chùa thờ Phật, đổi tên là chùa Phổ Chiếu.
Chùa Chiếu được trùng tu lớn vào năm 1985. Đặc biệt từ khi Thượng tọa Thích Thanh Giác về trụ trì đã mở mang xây dựng thêm để ngôi chùa có diện mạo khang trang như ngày nay.

Tuy chùa mới được khai lập chưa đầy 60 năm, nhưng đã mang cốt cách của một chốn đại Già lam thanh u, thâm trầm, cổ kính với phong cách kiến trúc mang đậm phong cách truyền thống cổ truyền. Dulichgo

Chùa Chiếu là một danh lam thắng cảnh hấp dẫn du khách thập phương và các Phật tử. Ngoài ý nghĩa là nơi thờ Phật, nơi sinh hoạt tôn giáo của nhân dân, nơi đây còn là địa chỉ đỏ ghi nhiều dấu ấn lịch sử của thành phố Hải Phòng trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp và chống chiến tranh với đế quốc Mỹ.

Hàng năm vào những ngày lễ Phật Đản (rằm tháng 4), Thượng nguyên (Rằm tháng giêng), Vu lan (rằm tháng 7)...  và các ngày rằm mồng một hàng tháng, chùa Chiếu thu hút rất đông tín đồ và nhân dân đến cầu phúc.

Nơi đây, Thượng tọa Thích Thanh Giác đã tổ chức các khóa tu niệm Phật định kỳ hàng tháng, giảng dạy cho các đạo tràng giáo lý nhà Phật, hoằng pháp tới hàng ngàn Phật tử.

Du lịch, GO! tổng hợp

Wednesday, February 11, 2015

Các đền chùa đông người lễ cuối năm

(VNE) - Những ngày tháng Chạp, một số nơi như đền Chúa Thác Bờ, đền Trình Chùa Hương, chùa Thiên Mụ... tấp nập dòng người đổ về đi lễ cuối năm.

Theo quan niệm của người Việt, đầu năm cầu an giải hạn ở chùa, đền phủ nào thì cuối năm dù bận đến mấy cũng cố thu xếp thời gian để tới lễ tạ và lại đăng ký danh sách cầu an giải hạn cho năm tới. Việc làm duy tâm này giúp cho mọi người cảm thấy yên tâm hơn trước thềm năm mới. Ngoài việc đi chùa lễ tạ, nhiều gia đình cũng kết hợp với du lịch tâm linh dịp cuối năm.

Đền Chúa Thác Bờ, Hòa Bình

Đền nằm trong khu vực Thác Bờ giữa dòng sông Đà thuộc xã Vầy Nưa, huyện Đà Bắc, đền thờ Chúa Thác Bờ bao gồm có đền Trình (đền Chúa) và đền Chầu (đền ông Chẩu). Đền Thác Bờ tuy không hoành tráng, đồ sộ như nhiều nơi khác nhưng nổi tiếng linh thiêng. Dulichgo

Nơi đây có địa thế phong thủy hài hòa và hùng vĩ, sau lưng là núi, trước mặt là sông nước hữu tĩnh, thuyền bè qua lại. Trước đây, đền thờ cũ chìm dưới hàng chục mét nước của thuỷ điện Hoà Bình, đền thờ ngày nay được lập bên trên nền của đền thờ cũ, lúc nào cũng tấp nập khách thập phương đến hành lễ.

Lễ hội Đền Bờ diễn ra từ ngày 7 tháng giêng và kéo dài tới hết tháng 3 âm lịch. Tuy nhiên, ngay từ tháng Chạp, nơi đây đã tấp nập dòng người đổ về lễ tạ, khiến tàu thuyền đậu kín các bến cảng. Người hành hương vừa đi lễ vừa được thưởng lãm cảnh tượng vô vàn đảo đá nhấp nhô trên mặt nước.

Đường đi: Cách Hà Nội 110 km và 15 phút đi thuyền. Bạn có thể kết hợp du thuyền trong lòng hồ sông Đà và mãn nhãn với tiên cảnh trong lòng động Thác Bờ. Đừng quên thưởng thức món cá nướng sông Đà vô cùng hấp dẫn phía chân đền.

Đền Trình Chùa Hương, Hà Nội

Đền Trình hay còn gọi là Ngũ Nhạc Linh Từ, là ngôi đền nhỏ nằm ngay bên phải của dòng Suối Yến, cách bến đò khoảng 500 m, thuộc tuyến du lịch chính đi vào chùa Thiên Trù và động Hương Tích, huyện Mỹ Đức, Hà Nội. Đền Trình được xây dựng dưới chân núi Ngũ Nhạc - dãy núi gồm 5 ngọn núi liền kề nhau tạo thành một vệt hình dáng giống một con rồng nằm phục gác cổng trời Nam. Qua nhiều đời truyền lại, xa xưa đây chỉ là một ngôi đền nhỏ, thờ vị thần tướng đã có công đánh giặc Ân phù vua Hùng Huy Vương nhưng vô cùng linh thiêng. Hằng năm có rất nhiều du khách đến tham quan, cầu tự.

< Nếu mệt bạn nên chọn cách đi Cáp Treo. Có thể đi cáp chiều lên và chiều xuống đi bộ, nếu có sức khỏe thì nên đi bộ lên, vừa đi vừa ngắm cảnh hai bên đường khá đẹp.

Đường đi: Từ Hà Nội, bạn có thể đi từ đường Nguyễn Trãi theo hướng đi Hà Đông, đến ngã Ba La bạn rẽ trái hướng đi Vân Đình, đến Tế Tiêu hỏi đường đi Chùa Hương. Hoặc đi theo hướng quốc lộ 1A qua cao tốc Pháp Vân - Cầu Giẽ (dành cho ô tô) hoặc theo hướng đi Thanh Trì (dành cho xe máy).

Đi Chùa Hương bạn hoàn toàn có thể đi trong ngày, vào mùa lễ hội Chùa Hương, do dân tình ở xa đến nên hay nghỉ trọ lại một đêm rồi sáng hôm sau mới đi lễ. Khi đến Chùa Hương bạn sẽ phải ngồi đò khoảng một tiếng vào và một tiếng trở ra.
Giá vé tham quan Chùa Hương + bảo hiểm là 50.000 đồng một người. Giá thuyền đò khứ hồi là 35.000 đồng một người.

Chùa Thiên Mụ, Huế

Chùa là một trong những kiến trúc tôn giáo cổ nhất và đẹp nhất ở Huế. Nơi đây là danh thắng không thể bỏ qua trong hành trình du lịch Huế. Được xây dựng từ những năm 1.600 và được bảo tồn qua nhiều lần, chùa Thiên Mụ thu hút nhiều du khách bởi vẻ nguy nga tráng lệ nhưng cũng không kém phần thanh tịnh, nên thơ.

Đường đi: Có nhiều phương tiện thuận lợi để di chuyển đến Huế. Đường bay từ Hà Nội, TP HCM thuận lợi để đến đây, bạn nên săn vé máy bay giá rẻ dịp cuối năm để mua với giá tốt.

< Để đến Chùa Thiên Mụ, bạn có thể đi đò dọc theo sông Hương, vô cùng lãng mạn.

Nếu nhiều thời gian và muốn trải nghiệm cảnh đẹp trên đường đi, bạn có thể lựa chọn tàu hỏa để đi. Dễ hơn là bắt xe khách, tuy nhiên bạn sẽ tốn khoảng 1 ngày để di chuyển.

Phương tiện di chuyển trong nội thành Huế: Bạn có thể thuê xe máy để kết hợp đi chùa và tham quan các điểm du lịch Huế. Giá thuê từ 100 - 200 nghìn một ngày. Dulichgo

Ăn uống: Bạn nên thử các loại đặc sản ngon nổi tiếng ở Huế, với giá phải chăng như cơm hến, bún bò, bánh bột lọc, bánh bèo, bánh khoái…

Chùa Bà, Tây Ninh

Tọa lạc trên núi Bà Đen, thuộc ấp Ninh Trung, xã Ninh Sơn, tỉnh Tây Ninh, chùa Bà còn được biết đến với tên gọi chùa Phật, chùa Thượng... Đây là một công trình lớn, thu hút rất nhiều khách thập phương về thăm viếng, thắp nhang khấn Phật mỗi dịp gần Tết. Vào những ngày đó, từ ngay dưới chân núi, đoàn người đã lũ lượt, chen chúc nhau để lên chùa.

Đường đi: Từ Sài Gòn, bạn sẽ ra bến An Sương và mua vé xe về Tây Ninh, tốt nhất là xe Đồng Phước. Giá vé khoảng 80.000 đến 90.000 đồng dao động tùy dịp. Xe sẽ di chuyển trong khoảng hơn 2 tiếng đồng hồ là tới nơi.

Ăn uống: Từ chân núi lên đến chùa Bà có bán rất nhiều đồ ăn, thức uống và đặc sản của Tây Ninh.

Chùa Ông, Sài Gòn

Chùa Ông, hay còn được gọi là miếu Quan Đế, Nghĩa An Hội Quán là ngôi chùa rất nổi tiếng trên đường Nguyễn Trãi (quận 5). Nơi đây có đông đúc người Hoa sinh sống nhưng chính người Việt cũng hết mực thờ phụng ngôi chùa này. Nhiều người đến đây khấn vái đều truyền miệng nhau về sự linh thiêng của chùa, tiếng lành cứ thế đồn xa. Trước cổng chùa có vài người bán nhang, đèn vàng mã nhưng rất trật tự, yên tĩnh.

Đường đi: Nằm trong nội thành Sài Gòn nên chỉ cần di chuyển bằng xe máy hoặc xe ô tô sẽ đến nơi. Chùa nằm tại số 676 đường Nguyễn Trãi, quận 5.

Theo Lê Thương - Tường Ý (Dulich.Vnexpress)
Du lịch, GO!

Monday, February 9, 2015

Chùa Bình Lâm - Vị Xuyên

Chùa Bình Lâm thuộc địa phận thôn Mường Nam, xã Phú Linh, huyện Vị Xuyên, tỉnh Hà Giang. Chùa còn có tên gọi chữ Hán là “Bình Lâm Tự”.

Chùa Bình Lâm xưa kia vốn ở phía chân núi đối diện chùa hiện tại, nhưng ngày nay nơi đây giờ chỉ còn lại nền chùa.

Năm 2005, di tích kiến trúc nghệ thuật chuông chùa Bình Lâm đã được Bộ Văn hoá Thông tin xếp hạng là di tích Quốc gia. Ngày 22/11/2007, chùa Bình Lâm mới được khánh thành có tổng diện tích 140m2. Dù xưa hay nay nhưng địa thế của ngôi chùa vẫn rất đẹp, phía sau lưng dựa vào núi, mặt quay về hướng đông.

Tại đây còn lưu giữ một quả chuông cổ do người đứng đầu địa phương cùng với vợ và các lão ông, lão bà, thiện nam, tín nữ góp tiền, của đúc vào ngày rằm tháng ba năm Ất Mùi (1295) thời Trần, đời vua Trần Anh Tông. Dulichgo

Chuông là một khối trụ khuôn vòm liền khối bằng đồng có đường kính miệng 59cm, chiều cao 101cm (quai chuông cao 17cm, thân cao 84cm) nặng 193kg. Quai Chuông đúc nổi đôi rồng đấu lưng vào nhau, mỗi rồng có 2 chân, mỗi chân có 4 móng sắc nhọn quắp chặt xuống nóc chuông. Thân rồng mập mạp, chắc khỏe, uốn cong tạo thành núm treo chuông, đỉnh quai chuông trang trí hình búp sen vẩy cá chép bao phủ toàn bộ thân rồng.

Thân chuông trang trí 6 núm gõ được bố trí thành 2 tầng, tầng thứ nhất ở dưới đế chuông có 2 núm đối xứng cách đều nhau 78cm. Tầng thứ 2 có 4 núm tạo thành 2 cặp đối xứng qua trục trung tâm của thân chuông, các núm này cách đều nhau 39cm. Các núm chuông tròn nổi đều bằng nhau, có đường kính 6cm. Đường viền xung quanh mỗi núm có 13 cánh sen đều đặn. Thân chuông được chia làm 2 phần: 4 ô chữ nhật đứng ở phía trên và 4 ô chữ nhật nằm ở phía dưới. Giữa các ô chữ nhật đứng là 5 đường gờ nổi chạy song song với nhau từ trên xuống dưới.

Vuông góc với 5 đường gờ nổi chạy dọc thân chuông này, ở trên nóc, giữa thân và đế chuông là các đường gờ nổi cũng chạy song song với nhau phối hợp với các gờ nổi dọc tạo thành những ô chữ nhật trên thân chuông. Các ô chữ nhật này được bao quanh bởi những gờ đúc nổi rất thanh thoát và chắc khỏe. Dulichgo

Trong lòng 4 ô chữ nhật đứng phía trên có khắc bài minh gồm 309 chữ Hán; 4 ô dưới hình chữ nhật nằm ở phía dưới để trơn, không có hoa văn hay ký tự nào. Vành miệng chuông loe ra, được trang trí bằng 45 cánh sen to xen lẫn 45 cánh sen nhỏ có kích thước bằng nhau tạo cho đế chuông vừa vững chắc, vừa mềm mại nhưng vẫn mang nặng ý nghĩa Phật học thông qua hình tượng hoa sen.

Bài minh trên chuông có nội dung như sau: "... chùa Bình Lâm tự thời Trần thuộc châu Bà Đồng Thượng ở giáp giới phía Bắc trường Phú Linh, nước Đại Việt. Nay kẻ nối sau là thủ lĩnh Nguyễn Anh và vợ là Nguyễn Thị Ninh cùng thái ông lão bà, thiện nam tín nữ phát tâm đúc quả chuông lớn và giờ Ngọ ngày rằm tháng 3 năm Ất Mùi (1295) ở mái hiên Tiểu Thượng Niên, viện Đại Bi trong thành để lưu truyền mãi mãi ở chùa Bình Lâm...".

Bài minh trên chuông là một văn bản gốc thời Trần với vị thủ lĩnh Nguyễn Anh - người thay mặt triều đình cai quản một địa phương cho ta thấy Vương triều Trần đã sử dụng Phật giáo làm công cụ để củng cố khối đại đoàn kết dân tộc trước những yêu cầu bảo vệ đất nước, chống giặc ngoại xâm.

Chuông chùa Bình Lâm là hiện vật gốc độc bản còn tương đối nguyên vẹn. Quả chuông thời Trần này là một trong những quả chuông có niên đại sớm nhất được biết ở Việt Nam. Năm 2005, Chuông chùa Bình Lâm được xếp hạng là Di tích kiến trúc nghệ thuật quốc gia.

Du lịch, GO! tổng hợp

Sunday, February 8, 2015

Chùa Ông Mẹt - Trà Vinh

Tỉnh Trà Vinh có hơn 140 ngôi chùa Khmer Nam Bộ. Chùa Ông Mẹt là một trong những ngôi chùa nổi tiếng nhất nơi đây.

Tọa lạc ngay trung tâm TP Trà Vinh, trên đường Lê Lợi, chùa Ông Mẹt là tên gọi theo người Việt. Tên chính theo tiếng Khmer của chùa là Bodhisálaràja, còn có tên gọi khác là Kompong. Cũng như các ngôi chùa Khmer khác, chùa ông Mẹt thuộc hệ phái Phật giáo Nam tông Khmer. Đây là trung tâm văn hóa, tín ngưỡng của đồng bào Khmer, nơi đồng bào dân tộc nầy "sống gởi của, thác gởi xương". Chùa còn là nơi đặt Trường Trung cấp Phật học Nam tông Khmer Nam Bộ.
Ngày 3-3-2009, Bộ Văn hóa – Thể thao và Du lịch đã ra Quyết định công nhận chùa Ông Mẹt là di tích cấp quốc gia. Đây là ngôi chùa cổ. Theo truyền kể dân gian, chùa Ông Mẹt được xây dựng lần đầu tiên vào khoảng năm 642 tại khu vực gần sân vận động tỉnh Trà Vinh bây giờ. Đó là khu đất giồng cao ráo, thoáng mát.

Theo tín ngưỡng Phật giáo Khmer, thờ ba vị thần: thần Cây, thần Nước và thần Lửa. Nơi nào càng có nhiều cây cổ thụ, nơi đó càng có nhiều thần ngự. Do đó, khi xây chùa, người Khmer thường chọn nơi có cây cao bóng mát; đồng thời, trồng thêm nhiều cây, vừa vâng lời Phật dạy vừa tạo phước đức cho phum sóc... Đến khoảng năm 711, chùa mới dời về vị trí hiện nay. Tọa lạc trong khuôn viên rộng gần 13.000m2, qua thời gian dài, chánh điện xuống cấp, được trùng tu vào những năm đầu thế kỷ 20, nhưng vẫn giữ được giá trị nghệ thuật kiến trúc tâm linh Khmer. Dulichgo

Cũng như các ngôi chùa Khmer khác ở Đồng bằng sông Cửu Long, chánh điện chùa Ông Mẹt được xây theo hướng Đông trên nền tam cấp. Cấp một bằng đá, cao 1,35 mét có hàng rào bao quanh. Trên đầu các cột rào trang trí đầu thần bốn mặt Bhramma. Cấp hai xây gạch đại, cao 0,7 mét. Bốn góc phía trong rào là các dạng tháp Kote, là loại hòm ngày xưa được đục đẽo từ thân cây to. Phía trước hướng Đông, và phía sau hướng Tây là cửa ra vào.

Chánh điện có ba lớp ngói hình chóp. Mái trên cùng dốc hơn hai mái dưới. Các góc đầu đao của mái đều có đuôi rồng cao vút uốn lượn, tượng trưng thần Rắn Nagar. Giữa các cấp mái có rèm che nắng, mưa bằng gỗ, chạm khắc hoa văn tinh xảo. Hành lang bao quanh chánh điện, trên các đầu cột đều trang trí tượng Keyno, riêng cột ở các góc thì trang trí tượng Krud có dáng vẻ khỏe khoắn, oai vệ, chống đỡ mái ngói nhưng lại nhẹ nhàng, thanh thoát. Tất cả vừa mang tính tôn nghiêm vừa tăng vẻ đẹp cho chùa.

Bên dưới mái, nơi tiếp giáp các cột đều có tượng vũ nữ dang tay chống đỡ mái ngói. Cột, kèo, xiên, đòn tay, trần chánh điện... đều bằng gỗ quý được chạm khắc hoa văn tỉ mỉ, sơn son thếp vàng với nhiều đề tài khác nhau. Hai bên vách chánh điện là các tranh minh họa theo Phật tích. Trong chánh điện, hướng tây là một bệ thờ lớn. Giữa bệ là tượng Preaschi ngồi thiền trên tòa sen cùng một số tượng Phật khác bao quanh, gồm: Phật đắc đạo, Phật khất thực, Phật thuyết pháp, Phật nhập Niết bàn... Dulichgo

Giữa chánh điện là nơi thờ duy nhất tượng Phật Thích Ca. Trước bàn thờ là hai pháp tọa dành cho các vị cao tăng thuyết pháp những khi chùa tổ chức đại lễ. Cặp pháp tọa nầy thiết kế theo hình tượng Reachsây (vua sư tử) bằng gỗ quý, rất đẹp, có trên 100 năm tuổi.

Đáng chú ý là chùa Ông Mẹt có một thư viện, được xây dựng vào năm 1916. Thư viện bằng gỗ theo kiểu nhà sàn, quay mặt về hướng Đông, hai đầu đều có cầu thang lên xuống. Bên trong thư viện là công trình nghệ thuật chạm khắc được sơn son thếp vàng. Thư viện gồm ba gian: gian chính trưng bày sách, hai gian phụ là nơi đọc sách. Sàn được làm bằng gỗ quý. Các đầu cột và xiên bên trong thư viện được chạm khắc hoa văn cầu kỳ, sơn son thếp vàng cẩn trọng. Đầu hồi phía Tây chạm khắc hoa hướng dương. Đầu hồi phía Đông chạm hình hai mãnh sư cầm dù che mâm kinh sách. Đặc biệt, giữa thư viện là bức bình phong gỗ, là tác phẩm mỹ thuật độc đáo, xưa nay hiếm.

Đến TP Trà Vinh là đến với rừng cây xanh mướt mát. Chùa Ông Mẹt tọa lạc trong bóng mát thâm trầm đó, là nơi tôn nghiêm, cổ kính mà du khách đến "thành phố rừng cây xanh" thường đến bái viếng.

Theo Phương Kiều (Báo Cà Mau)
Du lịch, GO!

Saturday, February 7, 2015

Di tích lịch sử văn hóa Miếu Lác

Miếu Lác - Ngôi miếu cổ thuộc làng Lác, xã Giang Biên, huyện Vĩnh Bảo tọa lạc trên một gò đất nổi cao hình “linh quy”, phía trước là dòng sông Luộc hiền hòa, hiện còn lưu giữ khá nhiều di vật lịch sử quý giá. Đây không chỉ là nơi sinh hoạt tín ngưỡng của người dân địa phương, mà còn được kỳ vọng phát triển thành điểm du lịch văn hóa tâm linh, tìm hiểu về cội nguồn.

Miếu Lác nằm ở vị trí đắc địa, mặt quay ra sông Luộc, với hướng nhìn ra phía Bắc – khá đặc biệt với các di tích đền, miếu ở nước ta. Căn cứ vào thần phả do dân làng lưu giữ và sao chép lại năm Gia Long thứ 3 (1804) cũng như trí nhớ các cụ cao lão trong làng, ngôi miếu có lịch sử rất lâu đời, thời Đại Đức nguyên soái Lương Toàn – vị tướng tham gia trận chiến lịch sử trên sông Bạch Đằng năm 1288.

< Khu Lăng mộ Đại Đức nguyên soái Lương Toàn.

Theo sử sách ghi, sau đại thắng quân Nguyên Mông, vua Trần mở tiệc mừng công tại phủ Thiên Trường, Lương Toàn được vua phong chức Thống lĩnh thủy bộ chư dinh tổng, quản nội ngoại bình phương quân vụ.

Tiệc tàn, Lương Toàn xin nhà vua về thăm lại quê hương, nhưng khi thuyền vừa về đến khúc sông quê, giông tố nổi lên, gió mưa dữ dội, sóng đánh ngập bờ, ngài và đoàn tùy tùng thác hóa tại khu vực sông Luộc, nay là khu vực chân cầu Qúy Cao. Khi ông mất, vua Trần phong chức Đại nguyên soái và truyền cho dân sở tại lập miếu phụng thờ. Còn hướng miếu nhìn ra phía Bắc có dụng ý nhắc nhở con cháu muôn đời luôn cảnh giác.

< Cuốn thư.

Nét cổ kính, rêu phong, tĩnh mịch của ngôi miếu được công nhận là di tích lịch sử cấp quốc gia này thể hiện qua kiến trúc mái thấp được lợp bằng hai loại ngói mũi hài to, nhỏ đan xen nhau thường gặp trong các công trình kiến trúc thời Lê; tưởng hồi bổ trụ, giật tam cấp được xây bằng loại gạch vồ lớn có niên đại thế kỷ 17, 18.

Các bậc cửa được lát bằng đá xanh nguyên khối. Kết cấu nóc mái là giá đỡ lớn đứng vững trên bề mặt thân, xà nóc, dui, hoành. Độ bền của công trình và yếu tố thẩm mỹ của miếu được bảo đảm bởi hệ thống khung, cột gỗ lim bề thế, cùng những nét chạm trổ, điêu khắc tinh tế của đôi bàn tay những nghệ nhân xưa.

< Ngai thờ.

Cùng với kiến trúc uy nghiêm, miếu Lác còn lưu giữ nhiều đồ tế khí, di vật như long ngai, bài vi, mũ thờ, giày thờ… có niên đại thế kỷ 18 đến đầu thế kỷ 20. Tiêu biểu phải kể tới chiếc sập thờ bằng đá khối có niên đại thế kỷ 19. Sập kiểu “chân quỳ dạ cá” cao 0.7m, dài 1.4m, rộng 0.8m, thân sập chia làm hai diềm trang trí nổi; diềm trên trạm “lưỡng long chầu nguyệt”, hình âm dương, chung quanh là các hình hoa có 4 cánh; diềm dưới chạm đồ bát bửu gồm pho sách, cuốn thư, lẵng hoa, bầu rượu, đàn tỳ bà… Chân quỳ tọa hình xoắn ốc, khúc lồi tại mặt rồng ngậm lá cúc dài.

Bên cạnh đó, miếu hiện còn lưu giữ 6 bản sắc phong cổ từ các đời Trần, Lê, Mạc, Nguyễn cùng 2 tấm bia đá có niên hiệu Chính hòa năm 1701 và Bảo Đại 1940, được chạm khắc cầu kỳ, tinh xảo, độc đóa. Theo Ban Quản lý Di tích miếu Lác, nhiều đoàn nghiên cứu tìm hiểu về miếu đều khẳng định đây là 2 tấm bia có trang trí rất độc đáo, hiếm gặp. Ban thờ của miếu bày đôi hạc cổ với những nét chạm khắc rấy tinh xảo, chiếc mỏ hạc hướng vút lên cao, cổ hạc được trang trí hình vẩy rồng, đôi cánh mô tả hình cánh phượng như thể hiện ước mơ, cầu trường thọ, sự phù trợ vĩnh tồn của thần thánh với người dân nơi đây. Trước cổng là đôi voi phục có niên đại từ xa xưa, vẻ cổ kính, rêu phong cùng năm tháng. Dulichgo

Theo trí nhớ của các cụ cao niên trong làng, vào đầu năm 1954 trong khi đào đất đắp đê gần miếu, nhân dân tìm thấy gần 20 ngôi mộ chum được cho là lăng mộ của Lương Toàn và các quân sĩ trong đoàn tùy tùng gặp nạn năm xưa. Sau đó, người dân tổ chức an táng các ngôi mộ chum phía sau hậu cung của miếu. Từ đó, nơi đặt mộ chum mọc lên vườn trúc quanh năm xanh tốt, tỏa rợp bóng mát.

Miếu Lác với lịch sử hơn 700 năm tồn tại, không chỉ là địa chỉ sinh hoạt tín ngưỡng uy linh của người dân địa phương. Bà Minh, Trưởng ban Hộ tự miếu cho biết: giá trị của ngôi miếu không chỉ lưu giữ được nhiều di vật quý mà ngôi miếu còn là nơi học tập, tham quan, vãn cảnh của thanh thiếu niên trong xã và cùng lân cận, cũng như du khách thập phương. Từ ngôi miếu cổ này nhiều bài học lịch sử sống động được khơi dậy, truyền lại cho các thế hệ trẻ, giúp họ hiểu hơn về truyền thống đấu tranh dựng nước của ông cha. Hằng năm, vào dịp lễ hội dân làng tổ chức tế thần, thi đánh cờ, hát chèo, hát chầu văn. Miếu cũng là nơi các cụ cao tuổi trong làng họp bàn những việc quan trọng của địa phương; tổ chức chúc thọ người cao tuổi, khen thưởng học sinh giỏi hằng năm…

Theo Haiphong.gov
Du lịch, GO!

Sunday, February 1, 2015

Tĩnh lặng tại chùa Đông Thiền - Huế

Từng viếng thăm nhiều ngôi chùa nhưng khi đến Đông Thiền, tôi thật sự thích không gian xanh mát tĩnh lặng nơi đây, cảm giác như được sống trong một thế giới khác.

Tôi từng đến Huế lang thang một mình dọc Hoàng Thành, ngồi quán vỉa hè nhâm nhi ly chè Huế, lặng nhìn dòng sông Hương vào buổi chiều khi hoàng hôn buông xuống rồi ngồi co ro bên khung cửa khách sạn nhìn mưa rơi ngoài phố hay ngủ trong nhà dân làm một người Huế. Nhưng với tôi hình như vẫn thiếu… Tôi muốn tìm Huế trong một cảm xúc khác. Và rồi tôi may mắn tìm lại mình trong cảm giác bình yên khi bước chân lạc vào chùa Đông Thiền, ngôi chùa có lịch sử lâu đời ở 65/2 Lê Ngô Cát.

Trò chuyện với sư cô Thích nữ Diệu Đạt Trụ Trì chùa Đông Thiền tôi có thêm nhiều thông tin quý về chùa. Sư cô giải thích nhiều người vẫn hay gọi nhầm chùa Đông Thiền thành chùa Đông Thuyền vì chưa hiểu hết chữ “Thiền” trong đạo Phật.

Chùa Đông Thiền được xây dựng từ thế kỷ thứ 18 ở làng Dương Xuân, nay thuộc xã Thủy Xuân, do ngài Tế Vĩ, đệ tử của ngài Liễu Quán, lập ra. Chùa càng trở nên nổi tiếng từ thể kỷ 19 khi Công chúa Ngọc Cơ con gái Vua Gia Long xuất gia tại đây… Dulichgo

Sau rất nhiều biến cố của lịch sử, thời gian, và qua nhiều đời trụ trì… nhưng đến nay chùa vẫn giữ được đường nét kiến trúc cổ xưa, hiện chùa còn lưu giữ chiếc khánh đồng có từ thời ngài Tế Vĩ, tấm biển sơn son thếp vàng thời Thiệu Trị, bia bằng đá thanh thời Minh Mạng, khám, tượng thờ cổ và chiếc trống được cho là lớn nhất Huế, nổi danh qua câu truyền tụng dân gian “trống Đông Thiền, chuông Linh Mụ”.

Kiến trúc chùa hiện nay do Sư bà Thích nữ Diệu Không và Sư cô Thích nữ Diệu Đạt tổ chức trùng tu vào năm 1987. Nếu nhìn vào kiến trúc chùa Đông Thiền hiện nay bạn thật khó nhận biết được phần nào của ngôi chùa đã được trùng tu. Nhờ đó vẻ bình yên của Đông Thiền vẫn luôn cuốn hút bước chân lữ khách phương xa.

Tôi từng viếng thăm nhiều ngôi chùa nhưng khi đến Đông Thiền tôi thật sự thích không gian xanh mát tĩnh lặng nơi đây. Cảm giác như mình được sống trong một thế giới khác, thanh thản và bình yên vô cùng. Nếu ngày nào đến Huế bạn hãy lạc cảnh Đông Thiền một lần như tôi để yêu thêm những gì rất Huế.

Theo Đoàn Xuân (Ngoisao.net)
Du lịch, GO!