Wednesday, February 25, 2015

Đình Tây Hạ ở Vĩnh Phúc

Lập Thạch là vùng đất cổ thuộc tỉnh Vĩnh Phúc. Những dấu ấn tín ngưỡng nguyên thủy của cư dân bản địa qua trường kỳ lịch sử hiện nay còn xuất hiện với mật độ dày đặc. Trước khi tách huyện Sông Lô thành huyện riêng, toàn huyện Lập Thạch có ít nhất 22 làng, thôn thờ tới 79 vị thần núi, thần sông; nhiều tín ngưỡng cổ: Thờ thần đá, thần cây, thần sông, thần núi… một vài nơi còn tồn tại việc thờ cúng các vật tính giao (một loại hình tín ngưỡng cũng rất cổ).

Lập Thạch có trên 100 di tích lịch sử văn hóa ở khắp các xã, thị trấn, trong đó có 25 di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia và cấp tỉnh; có mật độ di tích đã được xếp hạng dày nhất tỉnh Vĩnh Phúc. Đình Tây Hạ là di tích cấp quốc gia đã được xếp hạng, thuộc thôn Tây Hạ, xã Bàn Giản. Đình thờ Định Xá Đại Vương, được phong làm “Bản cảnh Thành hoàng” của làng Tây Hạ.

Định Xá Đại Vương hay Trương Định Xá là nhân vật thời Hùng Duệ Vương, nguyên quê quán ở Gia Cát – Bạch Hạc, phủ Tam Đới, đạo Sơn Tây nay thuộc Việt Trì. Bố có tên là Trương Bang, mẹ là Phùng Thị Nhiễu. Cả hai ông bà đều làm nghề chở đò và đánh cá. Do siêng năng làm ăn và tích cực làm việc thiện nên dần trở nên giàu có. Nhưng ngoài 40 tuổi mà vẫn chưa có con trai; ông bà đi khắp nơi cầu đảo.

Một lần, sau khi cầu đảo ở chùa Tây Thiên về thì gặp gió to trên sông Đáy nên nán lại một ngôi miếu, tức là ngôi miếu cạnh chùa Tây Hạ hiện nay, ở đó bà gặp điềm lành về nhà bà Trương có thai, đến ngày mồng 7 tháng giêng năm Quý Tỵ (Năm 328- TCN) thì sinh được một con trai, đặt tên là Định Xá. Khi lớn lên, do có tài văn và võ, nên Định Xá được vua Hùng Duệ Vương tuyển dụng và phong làm Chỉ huy sứ Tả tướng.

Trong cuộc đời làm tướng, Định Xá có hai chiến công lớn: một là, được vua Hùng Duệ Vương cử cho làm lầu kén rể ở cửa sông, trước cửa thành Việt Trì. Hai  là, khi Thục Phán mạnh lên, thôn tính đất đai của Vua Hùng,  Định Xá được cử làm tướng tiên phong đi dẹp nhà Thục. Khi đi đến đầu khu Tây Hạ bèn cùng sĩ tốt và nhân dân lập một đồn để phòng Thục. Sau đó, Định Xá triệu tập phụ lão tới hội nghị. Trong lần gặp ấy, phụ lão khu Tây Hạ kể lại 30 năm về trước có vợ chồng thuyền chài đi cầu đinh vì gặp mưa to gió lớn đã tạt vào miếu nơi đây nán nhờ, từ đó không thấy quay lại đây. Định Xá nói “Việc đó chính là chuyện của ta đây”.

Nghe vậy các phụ lão đều đồng lòng giúp cho Định Xá, nhờ vậy mà ông đã chọn được 35 người ở làng này làm tướng dưới quyền. Sau đó thì tiến hành cuộc bình Thục. Trong một trận chiến đấu quyết liệt ở chân núi Sóc Sơn, quân sĩ đã quá mệt mỏi, đói khát, thế trận gần như tan rã. Định Xá chỉ còn biết ngửa mặt lên trời cầu nguyện thì may đâu bầu trời bỗng nhiên đen kịt, tối tăm, mưa như trút nước. Nhờ cơn mưa đó, tinh thần quân sĩ hồi phục, người người dừng cơn khát, khí thế lại bừng bừng, do vậy mà đã chiến thắng quân Thục. Sau chiến công ấy các vị phụ lão khu Tây Hạ xin mãi mãi về sau dân làng được làm việc dưới trướng tướng quân Định Xá. Tướng quân cho khu Tây Hạ 30 hốt vàng bạc để mua ruộng, mua ao.

Tin thắng trận ấy đến nhà Vua, Hùng Duệ Vương liền ban thưởng cho tướng sĩ Định Xá và phong thực ấp cho ông ở huyện Lập Thạch ngày nay. Định Xá vâng mệnh vua, ông đến khu Tây Hạ thấy thế đất ở đây thực là một mạch sơn thủy vòng quanh, rồng chầu hổ phục, núi không cao mà nước chảy quanh vòng, giếng không sâu mà đủ nước dùng quanh năm nên đã đặt bản doanh ở đây, khi sống thì đặt sinh từ, khi chết thì làm nơi tế tự. Về sau các triều đình đều có phong tặng. Khi Đinh Tiên Hoàng lên ngôi hoàng đế đã tặng phong “Bản cảnh Thàng hoàng Định Xá tế thế, hộ quốc khang dân, phù vận, uy linh đại vương”. Tặng phong Thông minh, chính trực. Từ đó về sau trở nên linh ứng, các đế vương đều gia phong chữ đẹp.

Tưởng nhớ đến công lao của ông trong việc bảo vệ đất nước và có công với làng Tây Hạ nên nhân dân đã lập ngôi đình để thờ phụng vị quan chỉ huy sứ Tả tướng thời Hùng Duệ Vương. Nơi đây hàng năm tổ chức nhiều lễ hội, và đặc biệt ở nơi đây còn có tục kiêng kỵ các tên như: Định, Xá…đều nhằm mục đích duy nhất là tôn thờ Đức Thánh Đại Vương Định Xá, suốt hơn 2.200 năm.

Đình Tây Hạ được cho là xây dựng trước đời Cảnh Hưng thứ 15 (1754) hoặc muộn nhất cũng vào đầu thế kỷ thứ XVII. Khi mới xây dựng đình chỉ có đại đình với gác thượng cung của gian giữa, còn hậu cung được lập vào thế kỷ XIX(1868). Đình Tây Hạ được xây dựng và tu sửa 3 lần lớn vào các năm 1754, 1860 và 1868. Do có ba thời điểm xây dựng và tu sửa nên nhìn chung kiến trúc và nghệ thuật điêu khắc cũng có ba đặc điểm khác nhau, nhưng có tính kế thừa truyền thống kiến trúc và nghệ thuật điêu khắc của dân tộc. Ngày nay, đình còn lưu giữ được những cột, vì kèo, trạm trổ điêu khắc từ lúc lập đình như: Đầu dư phía ngoài cột ở bên giữa gian trái, xà ngang phía dưới của thượng điện… Tất cả các bộ phận này đều có màu gỗ cũ nhất đình với kỹ thuật tinh vi, còn lại đa số các bức trạm chổ, điêu khắc và di vật bằng gỗ chủ yếu mang yếu tố nghệ thuật thời Hậu Lê ở giai đoạn cuối.

Kiến trúc đình Tây Hạ hiện nay có kiểu chữ Đinh, tọa lạc ở đầu làng Tây Hạ. Cổng đình được tạo dựng với hai cột đồng trụ và hai cánh phượng hai bên; bên trên có xây đắp thành hình lồng đèn. Qua cổng đình là sân đình rộng thoáng. Nếu đứng ở giữa sân đình quan sát mặt chính điện, thì thấy đình Tây Hạ là một ngôi đình cổ mang phong cách nghệ thuật kiến trúc thời Hậu Lê, với các đầu đao cong vút, nhìn phía trước trông ngôi đình thấp nhưng rất bề thế trang nghiêm, trông như hình nấm. Nhìn tổng thể phía ngoài của ngôi đình trông rất đồ sộ, vững chắc, quy mô lớn. Mái đình lợp bằng ngói mũi hài, có tới hơn 10 loại ngói kích thước khác nhau Đi dọc theo phía hiên đình thấy trên các góc, các đầu dư của cột được trạm trổ những đề tài khác nhau như hoa lá, mây với những đường nét uyển chuyển rất đẹp mắt.

Điểm nổi bật nhất về nghệ thuật trong trang trí và điêu khắc của ngôi đình là chính điện có bộ cửa võng. Bộ cửa võng chia làm ba lớp. Trên cùng của cửa võng là bức trạm điêu khắc gỗ mặt hổ phù miệng ngậm chữ thọ với kỹ thuật trạm trổ tinh vi trông nghiêm nghị nhưng vẫn toát ra được ý nghĩa khuyên người ta làm điều thiện sẽ được sống lâu. Đến phía dưới chính điện có treo bức hoành phi sơn son thếp vàng có đục khắc ở giữa có 4 chữ đại tự “ lộc thọ phú quý”. Nội dung bức trạm là các đề tài tiên rồng, và bông lúa.

Trên các cột trụ có khắc chạm một con rồng ở tư thế bò từ trên xuống, uốn vòng quanh cột trụ theo chiều thẳng đứng, trên đỉnh đầu rồng chạm khắc một tiên ông ở cột trụ bên phải và chạm tiên nữ ở cột trụ phía trong. Bộ cửa võng ở đình Tây Hạ là biểu tượng tín ngưỡng cổ truyền của tiên và rồng hợp nhất thành một chỉnh thể cộng đồng người Việt cổ ở thời đại Văn Lang hay đây cũng là cách để giải thích về nòi giống con rồng cháu tiên của người Việt cổ. Bộ cửa võng như vậy vừa mang ý nghĩa xa xôi, sâu sắc, vừa có hình thức kỹ thuật tuyệt mỹ. Bên cạnh bộ cửa võng thì ở phía ngoài thượng điện có trạm khắc nhiều hình tượng như đôi rồng ở trên thanh xà, cụm hoa lá ở trên các vì kèo, hay một con long mã; tất cả các bức trạm này đều mang tính nghệ thuật của triều Nguyễn.

Phía trong là hậu cung cũng chính là nơi linh thiêng của ngôi đình. Ở đây cũng có những trạm khắc độc đáo như ở ban tiền của hậu cung khắc bộ lưỡng long chầu nguyệt (nghệ thuật thời Nguyễn). Ở hai bên góc chạm hai con nghê mang tính nghệ thuật vào thời Hậu Lê. Ở bộ cửa cũng được chạm khắc hình tượng lưỡng long chầu nhật và lưỡng long chầu nguyệt được chạm trên nền hoa lá. Nơi đây đặt bộ long ngai - bài vị được đục trạm tinh vi, sơn son thếp vàng. Trên bài vị có ghi dòng chữ vàng: “Đức vua thông minh chính trực/Định Xá uy linh đại vương”. Ở các gian còn lại của ngôi đình cũng được trạm khắc các cụm hoa lá tinh tế.

Đình Tây Hạ có 91 hiện vật bằng gỗ, đồng, gốm sứ, da, vải và giấy được bảo lưu. Các hiện vật này đều làm vào triều Nguyễn và trong thời gian gần đây.

Với lối kiến trúc nghệ thuật thời Hậu Lê và thời Nguyễn, lại thờ Định Xá đại vương là tướng thời vua Hùng cùng với những giá trị về khoa học và nghệ thuật nên đình Tây Hạ là nơi cho những ai muốn tìm hiểu và nghiên cứu về lịch sử, về văn hóa cổ truyền, về kiến trúc cổ, nghệ thuật điêu khắc gỗ ở thế kỷ thứ XVII, XVIII và XIX. Những giá trị to lớn đó của đình Tây Hạ đã được nhà nước xếp hạng là Di tích cấp quốc gia vào ngày 21 tháng 01 năm 1992.

Ngày nay, Đình Tây Hạ đã và đang thu hút được lượng khách đông đảo tới tham quan, nghiên cứu không chỉ bởi những truyền thuyết về người tướng tài Định Xá hay bởi những bức trạm trổ nhiều ý nghĩa mà nơi đây còn giữ được những lễ hội, những trò chơi cổ truyền, những phong tục tập quán mà ít nơi giữ được, lại nằm gần cụm di tích Bàn Giản – nơi có lễ hội cướp phết diễn ra vào tháng giêng hàng năm thu hút hàng trăm người tham dự và hàng nghìn người tới xem.

Theo Du Lịch Vĩnh Phúc
Du lịch, GO!

Quà của đất

Những ai sinh ra ở Phan Rang, Ninh Thuận ắt hẳn đều có một thời tuổi thơ với một thứ đồ chơi rất quen thuộc: Gà tàu dúc dích. Tại Ninh Thuận, con gà tàu xuất phát từ làng An Thạnh, huyện Ninh Phước và duy nhất được làm ở đây. Thậm chí, những người xa quê lâu năm khi nhìn thấy con gà thì biết ngay đó là người làng An Thạnh mà nhận đồng hương.

Nghề làm gà tàu hay còn gọi là gà đất được cho là xuất hiện cách đây hơn 100 năm. Có rất nhiều huyền thoại xung quanh nguồn gốc của loại đồ chơi đặc biệt này. Câu chuyện mà người làng ở đây vẫn truyền nhau nhất là thủa xa xưa, ông tổ của nghề này sang Trung Quốc và mua được một cặp gà rất đẹp, giống tốt nhưng lại không có khả năng sinh sản. Ông rất bực mình không hiểu tại sao lại có chuyện vô lý đó. Căn nguyên này đã dẫn dắt ông đến ý tưởng làm những con gà bằng đất đầu tiên, những con gà vừa có thể gáy lại vừa cục tác...

Câu chuyện trên có nhiều chi tiết đã nhuốm màu thời gian, khó xác minh được tính hư thực, nhưng một con gà “hai trong một” được làm từ đất và có tuổi đời hàng trăm năm lịch sử là điều hoàn toàn thật.

< Gọt giũa.

Về cơ bản, gà đất cũng tương tự như những con tò he đất ở vùng Hội An, được làm bằng đất và phát ra tiếng kêu khi thổi. Một điểm đặc biệt hơn là trong một chú gà đất dúc dích lại có thể vừa phát ra tiếng cục tác, vừa gáy ò ó o tùy vào cách chúng ta kéo- đẩy hay thổi vào con gà . Thoạt nhìn, sự đơn sơ, thủ công khiến người ta dễ bỏ qua chúng. Ít ai biết rằng, phía sau một thứ đồ chơi tưởng như rất đơn giản ấy là cả một kỳ công và sáng tạo.

Mảnh đất Phan Rang thiếu mưa thừa nắng cỗi cằn nhưng lại ưu đãi cho người dân ở đây một số loại đất thích hợp cho ngành thủ công mỹ nghệ. Tiêu biểu là đất ở tại cánh đồng Chăm ở thị trấn Phước Dân- nguyên liệu chính của sản phẩm gốm mỹ nghệ Bầu Trúc. Dulichgo

Riêng loại đất làm gà dúc dích phải được lấy từ hạ lưu con sông Lu, cách làng An Thạnh 2 km. Đất ở đây nơi dẻo quánh, không lẫn cát, để đảm bảo sản phẩm không bị bở, thích hợp cho việc tạo hình. Đất mang về trải qua một quá trình “muối đất” ít nhất 3 ngày (ủ với nước trong lu đất) cho “dẻ” ra, sau đó lại mang ủ trong các bịch ny-long nhỏ cho kết lại.

< Anh Nguyễn Hữu Phương đang thực hiện in khuôn con gà Tàu.

Tiếp đó, cho đất vào khuôn (khuôn tự tạo) và ép lại theo đường cong hình thù con gà. Cái khuôn ở đây có 4 mảnh, người thợ sẽ dán các mảnh lại với nhau (dán lại cũng bằng đất ướt) tạo thành con gà hoàn chỉnh. Tiếp đó là giai đoạn gọt đất, và phơi nắng.

Công đoạn làm kèn sao cho nó kêu cũng là một kỳ công. Kèn được làm từ cây trúc, yêu cầu phải rỗng nên người thợ phải lặn lội đi 50 cây số, lên tận vùng núi ở hồ sông Trâu mới tìm được những cây trúc phù hợp. Kèn trúc trải qua một quá trình cân chỉnh, thử đi thử lại nhiều lần thì mới gọi là đạt yêu cầu. Sau đó là giai đoạn phơi khô, ráp bầu hơi cho gà, sơn vẽ và hoàn thiện. Dulichgo

Quá trình làm gà tỉ mỉ là thế, nhiều công đoạn là thế nhưng một con gà đất bán ra hiện nay cũng chỉ có 5.000 đồng. Giữa thời buổi đồ chơi Việt còn khốn đốn bởi sự du nhập ồ ạt của hàng ngoại thì con gà đất đã một thời bị đứt đoạn và lãng quên. Ngôi làng An Thạnh ngày xưa với mấy chục người sống bằng nghề làm gà đất hiện nay chỉ còn lại duy nhất một người bám trụ với nghề.

< Rổ gà đất thành phẩm.

Anh Phương- người thợ làm gà đất còn sót lại chia sẻ: “ Đam mê làm gà từ năm 14 tuổi, tui tự đi học nghề của ông thầy trong làng, mê đến mức bỏ học. Sau một thời gian theo đuổi mấy mươi năm, tui đã bỏ nghề một thời gian dài tại vì mình làm ra mà không biết cách đi bán. Buồn tình, tui mang rổ gà đất bán từ Phú Yên trở vô đến tận Hóc Môn và chỉ mới bán lại ở tỉnh mình 2 năm trở lại đây thôi”. Cũng bởi cái tên gà tàu nên có khi khách hàng nghi ngờ đấy là đồ chơi Trung Quốc, anh đã phải giải thích rất nhiều lần. “Có phóng viên đến phỏng vấn cho tui cái danh thiếp của ổng, tui phải đi ép nhựa rồi có ai nghi ngờ tui lấy ra nói có phóng viên người ta làm chứng đàng hoàng nè, tui không có bán hàng Trung Quốc đâu”.

Tuổi thơ của thế hệ 8X đời đầu chúng tôi và trước đó nữa vẫn không quên có những buổi chợ trưa, mẹ mang về cho mấy đứa con vài con gà đất. Cái thời đồ chơi thiếu thốn, bọn trẻ con chúng tôi thích mê vì nó quá lạ lẫm. Con gà được nâng niu trên tay, chị em tôi vừa thổi một cách sung sướng, vừa canh chừng sợ mấy đứa hàng xóm nghịch như quỷ sứ sẽ làm rơi vỡ. Thằng em tôi thỏ thẻ với đứa bạn nối khố của nó, mắt vẫn không ngừng dán chặt vào con gà: “Cho mày chơi một chút thôi nha”.

Nhớ thằng cu Chì hàng xóm còn ôm con gà đất đi ngủ, tưởng tượng một ngày nào đó, sau một đêm nó sẽ…hóa thành con gà thiệt, gáy ò ó o kêu nó dậy đi học. Thời ấy cha mẹ đầu tắt mặt tối, chúng tôi tự chơi với nhau, đứa nào có con gà đất làm bạn là sung sướng lắm. Đến nỗi sau này, giữa những xoay vần cuộc sống, thỉnh thoảng con gà đất vẫn đến trong những giấc mơ hay hiện diện trong những câu chuyện với những người bạn bốn phương tứ xứ. Dulichgo

Ngày qua ngày, người thợ cuối cùng của làng vẫn cặm cụi làm ra những con gà đất nhỏ và mang đi khắp nơi bán để đâu đó trong mỗi nhà, những đứa trẻ của thời tiện nghi vẫn có được những phút giây trầm trồ thích thú thơ dại. Đâu đó trong những ngày xuân rộn rịp, những người già khi nhìn lại món đồ chơi bé nhỏ lại có dịp nhớ về một thời tuổi thơ gian khổ, cháy khét mái đầu rạng rỡ mừng đón những món quà của bà, của mẹ. Để đâu đó trong cuộc sống bon chen, hối hả, những người con của quê hương lại một lần lắng lại để tự hào vì giá trị lâu đời và tính nhân văn, nghệ thuật của món đồ chơi giản dị một thời vang bóng.

Theo Tapai (Người Lao Động)
Du lịch, GO!

Tuesday, February 24, 2015

Đầu xuân viếng 5 ngôi chùa cổ ở Sài Gòn

(PNO) - Viếng chùa ngày đầu năm là nét đẹp văn hóa tâm linh của người Việt trong Tết cổ truyền. Cũng như các miền khác, chùa Sài Gòn ngày đầu xuân luôn đông khách đến dâng hương, nhất là tại 5 ngôi chùa cổ nổi tiếng.
Những ngày đầu năm, nhiều ngôi chùa trong thành phố nhất là những ngôi chùa cổ luôn tấp nập khách thập phương đến vãn cảnh chùa, khấn cầu bình an và sức khỏe cho gia đình.

Tổ đình Giác Lâm

Đầu xuân, một trong những ngôi chùa Sài Gòn đông người đến viếng nhất là tổ đình Giác Lâm. Được xây dựng từ năm 1744, đến nay đã 270 năm, chùa Giác Lâm là ngôi chùa có lịch sử lâu đời nhất Sài Gòn, mang đặc trưng kiến trúc tôn giáo ở Nam Bộ. Đây là tổ đình của phái Thiền Lâm Tế tông ở miền Nam, với kiến trúc chữ Tam, gồm 3 dãy nhà ngang nối liền nhau: chính điện, giảng đường và trai đường.

Tổ đình tọa lạc tại đường Lạc Long Quân, có khuôn viên khá rộng, nhiều cây xanh thoáng mát. Với lịch sử lâu đời cùng kiến trúc tiêu biểu, đây là một trong những ngôi chủa rất nổi tiếng tại TP.HCM, dù là ngày thường hay mùng một, rằm đều đông người đến viếng.

Bước vào bên trong chùa, du khách cảm nhận được không gian hài hòa với thiên nhiên, sự u tịch của thiền môn. Trước chùa có Bảo tháp Xá Lợi hình lục giác, tầng 7 tháp thờ Xá Lợi Phật. Sân chùa có tượng Quán Thế Âm Bồ Tát dưới bóng cây bồ đề. Đây là cây bồ đề do Đại đức Narada mang từ Sri Lanka (Tích Lan) sang trồng vào năm 1953.

Hiện nay, chùa còn là một bảo tàng nhỏ, lưu giữ nhiều tác phẩm điêu khắc được chạm trổ tinh xảo. Chùa có 113 pho tượng cổ, hầu hết là bằng gỗ. Những cột chính bên trong điện đều được chạm khắc câu đối, thiếp vàng công phu.

Chùa Giác Viên

Cũng nằm trên đường Lạc Long Quân, lịch sử chùa Giác Viên (còn có tên là chùa Hố Đất) gắn liền với tổ đình Giác Lâm. Vị trí của chùa là nơi để gỗ trùng tu chùa Giác Lâm (năm 1798), ban đầu là am nhỏ, sau đó vài năm thì được xây thành chùa. Dulichgo

Giác Viên cũng là chùa cổ nổi tiếng tại TP.HCM, mang kiến trúc tương tự Giác Lâm, với Phật điện giữa chùa, hai bên là hai dãy nhà. Như những ngôi chùa lớn khác, khuôn viên chùa cũng có những dãy nhà phụ làm lớp học, trai đường, nhà bếp…

Chùa có 153 pho tượng, đa số bằng gỗ, vì là chùa cổ nên những tượng này cũng có lịch sử lâu đời, được xem là tương chân dung sớm ở Nam Bộ. Ngoài ra còn 57 bao lam (cửa võng) và 60 bức phù điêu, hầu hết đều là cổ vật quý.

Chùa Bà Thiên Hậu

Tọa lạc trên đường Nguyễn Trãi, chùa Bà Thiên Hậu (còn được gọi là chùa Bà Chợ Lớn) là một trong những ngôi chùa có lịch sử lâu đời nhất của người Hoa ở TP.HCM, được khởi công xây dựng từ khoảng năm 1760.

Chùa Bà Thiên Hậu mang đậm kiến trúc đặc trưng của người Hoa, được xây theo hình ấn, với 4 ngôi nhà liên kết nhau. Trải qua nhiều lần trùng tu, chùa vẫn giữ được kiến trúc này, từ thiết kế bên ngoài cho đến bài trí bên trong.

Là ngôi chùa cổ nổi tiếng nhất tại quận 5, chùa Bà Thiên Hậu hàng ngày vẫn đón tiếp người đến cúng lễ khá đông. Nhất là vào các ngày mùng một và rằm hàng tháng, các ngày lễ Tết trong năm của người Hoa như Tết Nguyên đán, Tết Nguyên tiêu, Tết Đoan Ngọ... Dulichgo

Lễ hội lớn nhất của chùa là lễ vía bà Thiên Hậu (23 tháng 3 Âm lịch) hàng năm, thu hút không chỉ người Hoa, người Việt ở TP.HCM mà còn ở các tỉnh về dự.

Chùa Phụng Sơn

Chùa Phụng Sơn tọa lạc trên đường 3 tháng 2 quận 11, do thiền sư Liễu Thông tạo lập vào đầu thế kỷ 19. Ban đầu chùa chỉ là am nhỏ, được xây trên gò đất cao nên được người dân quanh vùng gọi là chùa Gò. Tương truyền có một con chim phụng đến đậu trên cây ngô đồng trước am cất tiếng gáy, thiền sư cho đó là điềm lành nên đổi tên chùa là Phụng Sơn.

Năm 1904, am được xây cất lại. Trải qua hơn 200 năm, với 2 lần trùng tu lớn, chùa vẫn giữ kiến trúc cổ với khung gỗ và mái ngói âm dương. Chùa có 40 pho tượng sơn son thiếp vàng, trong đó có một số tượng quý như bộ Di Đà Tam Tôn, bộ Ngũ Hiền thượng kỳ thú, pho tượng Phật bằng đá, tượng Tiêu Diện...

Chùa Sùng Đức

Một ngôi chùa cổ khác cũng đông khách thập phương đến viếng đầu xuân là chùa Sùng Đức ở Thủ Đức. Chùa được xây dựng từ năm 1806, trải qua hơn 200 năm, chùa vẫn giữ được phong cách và kiểu dáng của ngôi chùa cổ với kiểu nhà tứ trụ cột gỗ, mái ngói âm dương, được xây theo thế chữ tam như trước kia.

Với lịch sử lâu đời, chùa hiện nay còn lưu giữ nhiều cổ vật quý như: đại hồng chung bằng đồng cao 1m30, tượng đức Phật Thích Ca bằng gỗ cao 1m30, chiếc trống cổ bằng gỗ dài 1m 34, 8 pho tượng cổ, 3 cặp liễn đối bằng gỗ quý… Ngoài cổ vật, chùa còn có nhiều hiện vật có giá trị nghệ thuật khác được các nghệ nhân điêu khắc, chạm trổ rất công phu.

Theo An Nguyễn (báo Phụ Nữ)
Du lịch, GO!

Kinh nghiệm đi lễ hội chùa Hương

Nằm ở xã Hương Sơn, huyện Mỹ Đức, Hà Nội, chùa Hương là một điểm du lịch tâm linh hấp dẫn, đặc biệt là những dịp đầu Xuân năm mới, lễ chùa du xuân luôn là một hoạt động được ưa chuộng và một nét đẹp trong đời sống văn hóa tinh thần người Việt.

Hành trình đến với chùa Hương không chỉ là hành trình về đất Phật, mà còn là dịp để thưởng ngoạn vẻ đẹp thiên nhiên trù phú. Xin chia sẻ tới độc giả một số kinh nghiệm hữu ích cho chuyến du lịch lễ hội chùa Hương 2015.

1. Đường đi đến chùa Hương

Bạn có thể chọn đi ô tô, xe máy hoặc sinh viên có thể đi xe buýt. Có 2 con đường có thể đi từ Hà Nội.
Thứ nhất, theo hướng Nguyễn Trãi – Hà Đông, rẽ trái ở ngã ba Ba La đi Vân Đình. Sau đó đi tiếp khoảng 40km đến Tế Tiêu rẽ trái và hỏi đường đi chùa Hương. Dulichgo

Hai là theo hướng quốc lộ 1A Pháp Vân – Cầu Rẽ, rẽ phải ở nút giao Đồng Văn vào quốc lộ 38, chạy tiếp tầm 15km theo hướng chợ Dầu là đến chùa Hương. Tuy nhiên, đường này chỉ dành cho ô tô, nếu bạn đi xe máy thì nên chọn cách thứ nhất hoặc đi theo quốc lộ 1A cũ hướng đi Thanh Trì.

Ngoài ra bạn cũng có thể chọn xe bus làm phương tiện di chuyển đến chùa Hương.

2. Nên đi Chùa Hương vào thời gian nào

Khoảng thời gian từ tháng 1 đến hết tháng 3 âm lịch là thời gian diễn ra lễ hội chùa Hương, đỉnh cao là từ rằm tháng giêng đến 18 tháng hai âm lịch. Vào dịp này bạn sẽ có cơ hội tham dự và hòa mình vào không khí tưng bừng cùng những hoạt động sinh hoạt văn hóa của lễ hội.

3. Đi chùa Hương mất bao lâu

Để đi được hết các đền chùa ở đây, bạn phải mất tới 2 ngày mới có thể khám phá hết. Nếu đi trong ngày bạn nên thăm đền Trình, chùa Thiên Trù, và động Hương Tích. Đây là những ngôi chùa chính và linh thiêng nhất. Bạn có thể leo núi hoặc với hệ thống cáp treo hiện đại sẽ giúp bạn di chuyển nhanh chóng hơn.

4. Các điểm tham quan ở Chùa Hương

Chùa Hương là một quần thể kiến trúc rải rác trong thung lũng Suối Yến, có 4 tuyến hành hương:

- Tuyến Hương Tích: Đền Trình – Chùa Thiên Trù – Động Tiên Sơn – Chùa Giải Oan – Đền Trần Song – Động Hương Tích – Chùa Hinh Bồng.
- Tuyến Thanh Sơn: Chùa Thanh Sơn – Động Hương Đài. Dulichgo
- Tuyến Long Vân: Chùa Long Vân – Động Long Vân – Hang Sũng Sàm.
- Tuyến Tuyết Sơn: Chùa Bảo Đài – Động Chùa Cá – Động Tuyết Sơn.

5. Giá vé thắng cảnh Chùa Hương

Giá vé chung là 85.000đ/vé/lượt khách. Trong đó, giá vé thăm quan là: 50.000đ/vé/lượt (người); giá vé đò chất lượng cao là 40.000 đồng/vé/lượt; đò thường là 35.000đ/vé/lượt (áp dụng cho tuyến Hương Tích).

Đối với người lớn từ 60 tuổi trở lên thì mức giá vé thăm quan được ưu đãi giảm 50% chỉ còn 25.000đ/vé/lượt cho 1 hành khách (khi mua vé cần xuất trình CMND hoặc thẻ hội viên Hội người cao tuổi).

Trẻ em dưới 10 tuổi được miễn vé thăm quan, trẻ em trên 10 tuổi được giảm 50% (25.000đ/vé/lượt), trẻ em cao 1,2m trở lên mức phí thăm quan tính như người lớn.

Du khách có nhu cầu thăm quan thêm các tuyến khác như Long Vân, Tuyết Sơn thì chỉ phải chi trả thêm mức phí đò thuyền là 25.000đ/vé/lượt cho 01 khách.

Giá vé cáp treo chùa Hương áp dụng cho lễ hội năm 2015 cũng không thay đổi so với năm 2014. Cụ thể, giá vé cáp treo dành cho người lớn và trẻ em khứ hồi lần lượt là 140.000đ/vé và 90.000đ/vé; một chiều lần lượt là là 90.000đ/vé và 60.000đ/vé. Trong đó, trẻ em cao 1,1m trở xuống được áp dụng mức giá dành cho trẻ em, cao trên 1,1m mức giá vé tính như người lớn.

6. Kinh nghiệm khi đi đò

Có rất nhiều cò đò bám theo mời chào bắt khách ở khu vực chùa thậm chí cách xa chùa 20km, bạn không nên đi theo cò đò vì giá vé sẽ bị chặt chém rất cao, hãy mua vé ở cổng hội, hoặc trực tiếp vào khu vực Suối Yến liên hệ với các nhà đò quanh bến.

Vào dịp lễ hội đông đúc, các nhà đò thường nhồi nhét thêm khách lên đò, để tránh bị tăng tiền, cũng như nhét thêm người, bạn nên thỏa thuận rõ ràng số tiền cũng như số lượng khách tối đa ngồi đò.
Đặc biệt, bạn phải chú ý an toàn khi ngồi đò.

7. Ăn uống tại Chùa Hương

Dọc đường từ bến đò cho đến động Thiên Trù có rất nhiều nhà hàng phục vụ với thực đơn khá hợp lý cho bạn lựa chọn, tuy nhiên hãy khảo giá trước để tránh bị chặt chém nếu vào mùa lễ hội và lựa chọn nhà hàng hợp lý nhất.

8. Chuẩn bị đồ lễ khi đi chùa Hương

Khi đi lễ chùa Hương, đồ cúng lễ nên gọn gàng và bạn nên chuẩn bị sẵn từ nhà mang đi để tiết kiệm thời gian và chi phí. Dulichgo

9. Những lưu ý khi mua sắm

Có rất nhiều đồ lưu niệm và đặc sản bạn có thể mua về làm quà cho bạn bè khi đi chùa Hương như vòng tay, vòng cổ, gương lược, chè củ mài, mơ quả, rau sắng... nhưng không phải mặt hàng nào được bày bán cũng là hàng có chất lượng tốt, khi mua hãy hỏi giá cả cụ thể, kiểm tra đúng tên sản phẩm, số lượng, chất lượng đặc biệt trong mùa lễ hội, bạn hãy hết sức chú ý khi quyết định mua hàng.

Dọc đường lên động Hương Tích cũng có rất nhiều hàng bán thuốc nam chữa bách bệnh, tuy nhiên các bài thuốc này thường không rõ nguồn gốc vậy nên hãy cẩn trọng.

10. Kinh nghiệm khác khi du lịch chùa Hương

Đến du lịch chùa Hương, bạn sẽ sử dụng rất nhiều đồ ăn thức uống, hãy vứt rác đúng nơi quy định và giữ gìn vệ sinh chung để bảo vệ môi trường khu du lịch sạch sẽ.

Vào mùa lễ hội thường rất đông đúc nên bạn hãy bảo quản hàng lý tư trang cẩn thận, tránh bị kẻ gian thừa dịp cao điểm móc túi, đánh cắp đồ của bạn.

Trang phục đứng đắn, lịch sự, không nên có những cử chỉ khiếm nhã cười đùa to tiếng gây mất trật tự trong chùa. Vì sẽ di chuyển nhiều nên bạn hãy chuẩn bị những đôi giày thể thao thay vì giầy cao gót để bảo vệ đôi chân của mình.

Lưu ý khi đi chùa đầu năm

Người đi lễ cần phải biết những quy định căn bản của nhà chùa để tuân thủ theo trong việc sửa soạn lễ vật đi chùa.

Trang phục

Khi vào chùa cần mặc quần áo dài, kín cổ, đi khẽ. Tránh mặc áo ngắn tay, áo sát nách, áo may ô, quần short, váy ngắn… Đối với Phật tử thì phải mặc áo lễ khi đến điện thờ Phật trong chùa. Dulichgo

Chuẩn bị lễ vật

Khi đến dâng hương ở các chùa nên sắm các lễ chay như: hương, hoa tươi, quả chín, oản, xôi, chè… Nếu đặt lễ mặn như cỗ tam sinh (trâu, dê, lợn), thịt gà, giò, chả... cần lưu ý không đặt lễ mặn ở khu vực Phật điện tức là chính điện, tức là nơi thờ tự chính của ngôi chùa. Trên hương án của chính điện chỉ được dâng đặt lễ chay, tịnh. Việc sắm sửa lễ mặn chỉ có thể được chấp nhận nếu như trong khu vực chùa có thờ tự các vị Đức Ông, Thánh, Mẫu và chỉ dâng đặt tại ban thờ hay điện thờ mà thôi.

Không nên sắm sửa vàng mã, tiền âm phủ để dâng cúng Phật tại chùa. Nếu có sửa lễ này thì đặt ở bàn thờ thần linh, Thánh Mẫu hay ở bàn thờ Đức Ông. Tiền thật cũng không nên đặt lên hương án của chính điện mà nên bỏ vào hòm công đức. Lễ mặn chỉ có thể sắm sửa nếu trong chùa có thờ các vị Thánh, và có ban thờ Mẫu và chỉ dâng tại các ban này thôi. Tuyệt đối không được dâng trên ban thờ Phật, Chư Bồ tát và Thánh Hiền. Hoa tươi lễ Phật là hoa sen, hoa huệ, hoa mẫu đơn, hoa ngâu… không dùng các loại hoa tạp, hoa dại.

Cầu nguyện

Cầu nguyện Theo quan niệm của nhà Phật, Phật chỉ phù hộ an bình, che chở cho con Phật chứ không thể phù hộ đường công, danh, tài, lộc. Vì vậy, khi chúng ta làm lễ cầu tới cửa Phật nên xin được Phật che chở, bảo vệ. Vào đình, đền bạn có thể cầu xin may mắn trong sự nghiệp, tình cảm….

Nguyên tắc ra, vào

Khi đi qua cổng Tam quan vào chùa nên đi vào cửa Giả quan (bên phải) và đi ra bằng cửa Không quan (bên trái). Cửa Trung quan chỉ dành cho Thiên tử, bậc cao tăng, bậc khoa bảng đi vào chùa và đi ra cũng theo cửa này. Sau đó, du khách có thể gặp sư trụ trì, sở dĩ là vì Chùa do sư trụ trì cai quản, có sư, tăng ni, chùa mới được giữ gìn và Đạo Phật mới được truyền lưu nên khi vào chùa phải theo lệ. Dulichgo

Năm bước hành lễ khi đi chùa

1. Đặt lễ vật: thắp hương và làm lễ ở ban thờ Đức Ông trước.
2. Sau khi đặt lễ ở ban Đức Ông xong, đặt lễ lên hương án của chính điện, thắp đèn nhang.

3. Sau khi đặt lễ chính điện xong thì đi thắp hương ở tất cả các ban thờ khác của nhà Bái đường. Khi thắp hương lên đều có 3 lễ hay 5 lễ. Nếu chùa nào có điện thờ Mẫu, Tứ phủ thì đến đó đặt lễ, dâng hương cầu theo ý nguyện.
4. Cuối cùng thì lễ ở nhà thờ Tổ (nhà Hậu).
5. Cuối buổi lễ, sau khi đã lễ tạ để hạ lễ thì nên đến nhà trai giới hay phòng tiếp khách để thăm hỏi các vị sư, tăng trụ trì và có thể tùy tâm công đức.

Đề phòng những trường hợp xấu

Trong dịp lễ hội có rất nhiều người đến chùa để cầu may, tuy nhiên bên cạnh đó cũng là những kẻ xấu trà trộn vào đám đông, có những hành vi không đẹp như móc túi, ăn cắp, chính vì thế khi đi lễ chùa không nên mang quá nhiều tiền mặt trong người.

Theo Báo Đầu Tư, Ngôi Sao
Du lịch, GO!

Tục đón Tết của người Dao, Tày, Sán Chỉ

(BQN) - Trong số 21 dân tộc thiểu số của Quảng Ninh, đông nhất là người Dao, Tày và Sán Chỉ. Mỗi khi xuân về, bà con các tộc người này nô nức đón Tết với những phong tục riêng rất độc đáo...

Bánh chưng nhân cá của người Tày

Người Tày có phong tục đón Tết rất độc đáo, ít bị pha trộn với các dân tộc khác. Bà con người Tày chuẩn bị từ mùng 10 tháng Chạp, khi đó người nuôi được gà thì nhốt riêng ra để ăn Tết, người không nuôi thì cũng mua trước từ ngày này. Xưa kia, vào ngày 25 tháng Chạp thì chẳng còn ai bán hàng nữa, các gia đình rửa lá dong chuẩn bị gói bánh chưng, bánh cốc mò.
Người Tày gói bánh chưng rất to để cúng tổ tiên, bánh được gói bằng 12 bơ gạo, nhân bánh có 1 con cá suối nặng 2,5 lạng, 1 quả trứng và 1 miếng thịt ba chỉ.

Về lý do, anh Chíu Quảng Thanh, cán bộ Phòng VHTT huyện Bình Liêu giải thích, quan niệm của người Tày là không chỉ riêng con người mà ngay cả loài vật cũng có linh hồn. Bánh chưng cúng tổ tiên là gửi linh hồn các con vật rất gần gũi với con người là cá, gà, ngan, lợn xuống cõi âm để người quá cố làm vật nuôi như khi họ còn sống.

Người Tày gói 2 loại bánh chưng khác nhau gọi là bánh bố hình tròn, bánh mẹ dài. Chiều 30 Tết, bánh được đưa vào bàn thờ tổ tiên. Sau Tết, bánh được bóc ra, cả họ phải tập trung đông người ăn mới hết. Nếu có khách đến, chủ nhà rất ân cần mời khách cùng ăn, người nào ngẫu nhiên được ăn bánh của 3 nhà coi như may mắn quanh năm.

< Bánh chưng dài, bánh cốc mò, xôi ngũ sắc là các món ẩm thực không thể thiếu của người Sán Chỉ ở xã Đại Thành (Tiên Yên) vào dịp tết.

Trong dịp Tết, người Tày không chỉ có bánh chưng mà còn gói rất nhiều bánh cốc mò (gần giống bánh gù). Bánh chín, bà con đem treo bánh ở khắp các cửa sổ trong nhà và cửa sổ ngoài vườn (chuồng trâu, chuồng lợn) để linh hồn những người lang thang chết ốm hoặc chết đói ngoài rừng, ngoài đường… không có nhà cửa, nơi thờ cúng có bánh ăn Tết. Số bánh này sau Tết được coi là lộc, người ta bóc ra cho trẻ con ăn với quan niệm khi ăn lộc, những đứa trẻ sẽ có cuộc sống no ấm, khoẻ mạnh hơn, có nhà cửa, không phải sống lang thang.

Người Tày cúng mùng 1 Tết cũng có nét độc đáo riêng. Ngoài bánh chưng, họ còn có xôi màu đỏ được nấu với nước quả rừng. Xôi được chia thành 9 nắm tượng trưng cho 9 đời của dòng họ mình. Mùng 1 Tết, họ ăn một nửa số xôi đó và không ăn thịt vì kiêng sát sinh.

Bà con cho rằng, linh hồn các con vật nuôi sau khi chết cũng về đón Tết nên không sát sinh vào ngày mùng 1, để tổ tiên con cháu của vật nuôi cũng được sum vầy. Cuộc sống của người Tày luôn gắn liền với các dòng sông nên vào ngày Tết, họ không quên thắp thương thờ thần sông, rồi hái búp cây le mọc bên bờ sông về ăn lấy lộc, đàn ông hái 7 búp, phụ nữ thì hái 9 búp.

Dập dìu điệu Soóng cọ

Người Sán Chỉ sống tập trung nhiều ở các xã Đại Dực, Đại Thành (huyện Tiên Yên). Từ 27-12 âm lịch, người Sán Chỉ đã bắt đầu lo gói bánh chưng để chuẩn bị Tết, bánh chưng của họ tròn dài, nhân thịt và đỗ xanh có điểm thêm chút lá cơm nông, để nhân bánh có màu đỏ tạo hạnh phúc may mắn. Đến 30 Tết, người ta lấy lá đa cắm vào bên cửa để lấy lộc đón năm mới, sau đó họ mới giết gà, giết lợn. Ngày mùng 1, chủ nhà hỏi thầy mo hướng xuất hành đầu năm. Khi đã chọn được hướng, người ta chặt 1 cây tre cao hơn 2m để nguyên cả cành lá cắm vào hướng đó trước sân.

< Đàn tính - nhạc cụ gắn liền với đời sống văn hoá của người Tày ở Bình Liêu.

Đêm 30 Tết, chủ nhà lấy giấy đỏ và vàng cắt hình con cá. Sáng mùng 1 Tết, các thành viên trong gia đình (kể cả trẻ con) ai cũng phải mang theo 2 con cá bằng giấy đến cây tre được cắm trước nhà, họ treo 1 con vào cây tre, còn con kia họ bẻ 1 nhánh tre xuyên qua, cắm vào bờ tường nhà. Các gia đình đều làm bánh rán để cúng. Người Sán Chỉ cũng mang phong tục kiêng ăn như người Tày, mặc dù ngày mùng 1 Tết, họ cúng rất nhiều thứ từ bánh chưng, bánh rán, thịt, cá, rượu.

Họ kiêng ăn thịt cả ngày hoặc đến tầm 2 giờ chiều mới ăn. Họ còn kiêng quét nhà vào ngày mùng 1, kiêng đi nương rẫy, không có người mời thì không sang nhà người khác chơi. Nhà nào cũng chọn người đàn ông đứng tuổi, hợp với mệnh gia đình mình để xông đất, với hy vọng người đó sẽ đem lại may mắn cho gia đình quanh năm. Bà con chọn ăn tết ngày mùng 1 bên nhà nội, mùng 2 sang nhà ngoại, mùng 3 làm lễ khai xuân đốt cành tre con cá được cắm từ mấy hôm trước, lúc này họ gõ kẻng, gõ trống để xua đuổi những điều không may, bệnh tật trong năm ra khỏi nhà.

Ngày Tết, bà con dân bản cũng tụ tập lại với nhau tổ chức hội xuân. Họ vui các trò chơi dân gian như kéo co, đẩy gậy, đánh quay, đánh cù, ném còn, đặc biệt tục lệ hát Soóng cọ không thể thiếu trong những ngày này. Họ hát giao duyên, các bản hát đối với nhau, hát nhóm nam nữ, nội dung của các bài hát đề cập đến nhiều lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội, tình yêu đôi lứa, tình yêu thiên nhiên, tình yêu quê hương đất nước, tình yêu lao động. Nhiều đôi trai gái đã nên duyên từ các buổi đi hát như thế này.

Người Sán Chỉ còn có một tục lệ khai xuân độc đáo khác, đó là tục lệ “trồng ngô”. Họ chọn ngày Dần để đi khai xuân, tất cả các nhà trong xóm, bản sẽ tập trung giúp một nhà trồng ngô vào buổi sáng. Đến đầu buổi chiều, chủ nhà sẽ mời tất cả mọi người bữa ăn đầu năm, họ ăn uống, múa hát đến tận đêm mới về. Cứ thế, họ tiếp tục đi giúp các nhà khác trong bản…

< Hát Soóng cọ luôn được tổ chức vào ngày Tết của người Sán Chỉ, xã Đại Thành (Tiên Yên).


Người Dao và tục xin chữ cầu may

Người Dao có mặt ở hầu khắp các huyện, thị và phong tục đón tết của họ cũng gần giống người Kinh. Theo lời kể của ông Triệu Thanh Xuân, 72 tuổi, thôn Nà Bắp (xã Đồn Đạc, huyện Ba Chẽ) thì mùng 1 Tết, tất cả người trong dòng họ tập trung ở nhà người lớn tuổi và có vị trí lớn nhất trong dòng họ để cúng.

Người Dao không cúng một lễ chung tất cả ông bà tổ tiên như người Kinh mà họ cúng từng người một. Thí dụ như trong dòng họ có 9 người đã mất, thì người sống cúng liền trong 9 ngày, lần lượt từ người lớn tuổi nhất đến người ít tuổi nhất.

Ngày mùng 1 Tết, họ chỉ mừng tuổi người già, con cháu sống trong ngôi nhà mình, kiêng mừng tuổi người sống khác nhà, bởi họ quan niệm đồng tiền hôm đó là lộc, mừng tuổi người trong nhà thì lộc không mất đi đâu hết.

Từ mùng 2 Tết trở đi, họ mới mừng tuổi người già và trẻ con ở nhà khác. Người Dao cũng có tục xin chữ cầu may như người Kinh, nhưng không phải xin chữ thầy đồ mà là thầy mo trong làng.

Theo Anh Vũ (báo Quảng Ninh)
Du lịch, GO!

Tokyo giữa Sài Gòn

TP.HCM cảm tính nhưng cũng đầy lý trí, dễ đón nhận nhưng nhanh chóng từ bỏ nếu không phù hợp. Để tạo dấu ấn riêng ở đô thị này không dễ. Và người Nhật đã âm thầm làm được điều đó.

Tôi biết đến Tokyo thu nhỏ của Sài Gòn nhờ thầy giáo Koda Minoru. Vợ chồng ông vốn là dân văn phòng chính hiệu kiểu Nhật, sống ở đây hơn bảy năm, lấy công việc dạy ngôn ngữ miễn phí làm niềm vui. Để chuẩn bị cho cuộc sống lúc về hưu, ông bà đã đi khắp Đông Nam Á và quyết định dừng lại ở Sài Gòn. Cũng như nhiều người Nhật khác, ông Koda Minoru và vợ chọn Sài Gòn để định cư đơn giản vì thời tiết khá đẹp và thức ăn hợp khẩu vị.

Koda Minoru thích phố Nhật ở Sài Gòn vì nơi đây không bị co cụm dành riêng cho người Nhật. Cả khu phố là một sự hòa hợp Việt - Nhật khiến Koda Minoru vừa cảm thấy như được ở nhà vừa được giao lưu, được sống cùng người bản địa. Những lần đến tìm thầy Koda Minoru, tôi có dịp khám phá khu phố đặc biệt này. Từ sáng đến khuya, khu vực đầu đường Lê Thánh Tôn kéo dài từ Tôn Đức Thắng đến Thi Sách luôn nhộn nhịp bởi lượng người Nhật (mà tôi trộm nghĩ không biết ở đâu ra lắm thế) đổ về. Dulichgo

Nếu lướt nhanh qua con đường, có lẽ bạn chỉ kịp bị thu hút bởi một loạt quán xá san sát nhau với biển hiệu chữ Nhật, chữ Việt cùng hình ảnh đặc trưng của xứ hoa anh đào. Thật ra, nếu có dịp lang thang nơi này, bạn mới biết rằng tiểu Tokyo này còn có những siêu thị, cửa hàng chuyên cung cấp mọi sản phẩm từ quê nhà để phục vụ người Nhật sinh sống tại Sài Gòn hay những hội quán đặc trưng văn hóa xứ sở mặt trời mọc.

Không chỉ là nơi tập trung quán xá, tiểu Tokyo này còn là nơi định cư lâu dài của nhiều người Nhật vì ngay trung tâm, tiện lợi cùng hàng loạt dịch vụ chuyên phục vụ người Nhật chỉ cách nhau vài bước chân. Đây chính là nơi khởi đầu của hầu hết người Nhật khi quyết định gắn kết với TP. Sau một thời gian, khi đã quen với sự khác biệt giữa Nhật Bản và TP.HCM, họ mới bắt đầu di chuyển vào những khu dân cư nhiều người bản địa hơn như Phú Mỹ Hưng, hẻm 18A Nguyễn Thị Minh Khai, đường Nguyễn Đình Chiểu gần khu Vườn Chuối...

Tuy là một nơi tập trung nhiều người nước ngoài, Tokyo thu nhỏ lại rất khác với không khí của phố Tây, phố Hàn. Đông đúc đó, nhộn nhịp đó, nhưng không ồn ào, không gây khó chịu. Đó chính là tính cách của người Nhật, năng động nhưng không phô trương. Mọi thứ ở phố Nhật cứ nhẹ nhàng, “chất” Nhật cứ như khép nép, lặng lẽ hòa vào “chất” Sài Gòn. Có ồn ào chăng là dòng xe hối hả chạy suốt đêm ngày trên con đường mạch sống nối cửa ngõ vào khu trung tâm.

Rẽ vào những con hẻm, vẫn là hàng quán đủ kiểu dày đặc, từng tốp người ra vô đông đúc nhưng mọi thứ luôn chừng mực, lặng lẽ. Những cánh cửa kéo ngang đặc trưng, không gian kín đáo tách biệt với bên ngoài. Từ trong hẻm, những phụ nữ Nhật đẩy xe nôi chậm rãi đi quanh các cửa hàng mua sắm. Dulichgo

Thỉnh thoảng, bạn còn có thể thấy những phụ nữ Nhật rạng ngời trong tà áo dài, thật duyên. Mà phụ nữ Nhật yêu áo dài Việt đáo để. Sống ở Sài Gòn, họ sắm một - hai bộ áo dài để… khoe mình mặc đẹp không kém gì người bản địa. Một cách để hòa nhập khéo léo. Dân Sài Gòn cũng bắt đầu tụ tập về đây để khám phá nét đẹp văn hóa mà người Nhật mang đến, để khám phá ẩm thực, thưởng thức những tô mì ramen đúng chất hay loại pizza độc đáo mang hương vị Nhật Bản. Mà không dễ đâu nhé, phải đặt bàn từ nhiều ngày trước bạn mới có thể được tiếp đón vì thực khách xếp hàng dài đấy.

Lang thang ở đây, chỉ cần tinh ý một chút, bạn sẽ thấy sự khác biệt. Quán Nhật không có nhu cầu sử dụng vỉa hè hay lòng hẻm để kê thêm bàn, kéo thêm khách. Đây chính là văn hóa kinh doanh của người Nhật, không muốn gây phiền hà và muốn mọi thứ xung quanh cũng được đẹp như quán của mình. Chính nhờ triết lý kinh doanh ấy, lòng hẻm của đường Lê Thánh Tôn cứ rộng rãi và sạch sẽ dù nhu cầu kinh doanh, mua bán nơi đây vẫn tăng lên không ngừng. Tuy nổi tiếng là khu tập trung “ăn chơi” của người Nhật nhưng nơi đây lại khá “lành tính” như cách ví von của người dân lâu năm.

Khi có chút rượu, người Nhật cười vui to tiếng một chút lúc đưa nhau ra về, nhưng chỉ một chút thôi nhé, rồi hết. Người Nhật không bỏ rác bừa bãi. Minami Hiroya, anh bạn người Nhật coi Sài Gòn như quê hương thứ hai cho biết, nhập gia thì dĩ nhiên phải tùy tục, nhưng người Nhật còn biết uốn nắn mọi thứ theo cách của mình. Quán nào không sạch sẽ, bỏ quên những thứ xung quanh thì chúng tôi không ủng hộ nữa. Minami Hiroya làm tôi nhớ đến Oshima Mitutere, quản lý một viện tạo mẫu tóc trên đường Trương Định, Q.3, ngày ngày cùng nhân viên đi nhặt rác ở những tuyến đường xung quanh nơi kinh doanh. Câu chuyện có thật này khiến người Sài Gòn phải suy nghĩ, liệu mình đã yêu mảnh đất này bằng Oshima Mitutere? Có đủ sức làm những điều nhỏ nhặt thôi nhưng rất cần thiết cho đô thị này?

Ẩm thực Nhật Bản cũng nhanh chóng chinh phục dân Sài Gòn. Tuy nhiên, hành trình tạo dấu ấn ẩm thực này phải mất gần 20 năm. Nhà hàng Nhật đầu tiên xuất hiện vào những năm 1990 của thế kỷ trước ở khách sạn Rex. Sau đó, các bếp Nhật khác mới lần lượt nổi lửa tại Caravelle, Omni… Thuở ấy, nhà hàng Nhật là thế giới riêng của các doanh nhân nước ngoài và tầng lớp thượng lưu Sài Gòn. Người Việt bình thường xem món Nhật là điều gì đó cao xa huyền diệu. Và rồi khách Nhật ồ ạt đổ về, cầu tăng chóng mặt nhưng cung vẫn còn quá ít ỏi nên các đầu bếp Nhật tại các khách sạn năm sao bắt đầu tách ra tự đầu tư nhà hàng bên ngoài. Bên cạnh đó, một số người Việt, từ vai trò học việc cũng dần trưởng thành và tự tin khai phá mảnh đất mới mẻ. Dulichgo

Mọi thứ bắt đầu rẽ sang hướng rộng hơn khi nhà hàng Sushi Bar xuất hiện vào cuối những năm 90. Dòng ẩm thực cao sang này bắt đầu được kéo xuống mức trung lưu để tiệm cận với người Sài Gòn hơn. Từ đây, thuật ngữ “rủ nhau đi ăn sushi” mới chính thức xuất hiện trong người Việt. Tốc độ phát triển của các quán Nhật bắt đầu tăng chóng mặt, có hơn 300 công ty tham gia đầu tư nhà hàng, quán Nhật. Cho đến nay có gần 500 quán Nhật ở khắp nơi, từ khu trung tâm đến ngoại ô. Một con số đáng nể mà theo nhiều người đã vượt xa nhiều đô thị khác ở Đông Nam Á. Bây giờ không chỉ có nhà giàu hay giới văn phòng mà mọi người đều có thể thưởng thức miếng cá sống hay sushi đậm chất Nhật. Trong list danh sách món ăn yêu thích của Sài Gòn chính thức có thêm những cái tên: sushi, sashimi, tempura, ramen, mochi....

Từ những nguyên liệu cơ bản, người Nhật đã sáng tạo ra các món ăn bằng óc thẩm mỹ, sự khéo tay và hương vị tinh tế trong các loại gia vị. Những món ăn được chế biến nhỏ nhắn, xinh xắn, hương vị thanh tao, nhẹ nhàng. Đồ ăn Nhật Bản chú trọng đến đặc sản theo từng mùa và sự lựa chọn bát đĩa đựng thức ăn cũng là cả một nghệ thuật.

Chị Lâm Hoài Thu, chủ nhân Bamboo Sushi lý giải: “Không có gì ngạc nhiên khi người Sài Gòn nhanh chóng chấp nhận món Nhật vì ẩm thực của cả hai đều có những sự tương đồng rất lớn như món chính vẫn là gạo, dùng thực phẩm tươi sống và nhiều rau”. Làm nhanh một cuộc thống kê bỏ túi thì dễ dàng nhận ra, so với món Thái, món Hàn, ẩm thực xứ hoa anh đào đang chiếm ưu thế và chính thức được chấp nhận. Thậm chí, quán vỉa hè cũng đã bắt đầu xuất hiện món Nhật như cơm cuộn sushi cấp tốc.

Không tiếp thị, không quảng bá ồ ạt, món ăn Nhật dần dần chinh phục người Sài Gòn bằng sự gần gũi và nét tinh túy độc đáo. Những món ăn được chế biến nhỏ nhắn, xinh xắn, hương vị thanh tao, nhẹ nhàng. Dĩ nhiên, khẩu vị Nhật khi bước vào cái “lẩu khổng lồ” Sài Gòn thì không dễ gì được giữ nguyên. Để tồn tại, các đầu bếp phải gia giảm sao cho phù hợp. Họ phải giảm mặn để món ăn có vị ngọt thanh, thoang thoáng dư vị Sài Gòn.

Tuy đã bình dân và địa phương hóa nhưng món ăn Nhật vẫn đảm bảo nhiều tiêu chuẩn khắt khe, yêu cầu các đầu bếp phải tuân thủ để giữ chất của mình. Các quán vẫn phải dùng gạo, dấm Nhật và thực hiện đúng kỹ thuật để hạt cơm trong miếng sushi trắng bóng, dính một cách tự nhiên. Món sashimi - đồ sống của Nhật thì càng không thể chấp nhận việc đi tắt quy trình xử lý hay cải biên. Cách bảo quản miếng cá sống luôn đòi hỏi người đứng bếp phải tuân thủ nghiêm ngặt để miếng thịt cá luôn ngọt và không bị nhiễm khuẩn.

Thầy Koda Minoru cho biết: “Tinh thần của Nhật Bản là vậy. Dễ dàng thích ứng nhưng cũng rất cương quyết không chịu thay đổi những giá trị cốt lõi của mình”. Ngẫm thế cũng hay, Sài Gòn sẽ có thêm nhiều cái lợi từ tinh thần Nhật Bản ấy. Các quán không đúng chuẩn sẽ bị đào thải, đời sống ẩm thực Sài Gòn sẽ được nâng cao, không nhạt nhòa màu nào cũng giống màu nào.

Trong những cuộc tiếp xúc với bạn bè người Nhật tôi nhận ra rằng, họ có xu hướng đầu tư vào chiều sâu thay vì tạo sự chú ý bên ngoài. Minami Hiroya thường lưu ý tôi cách nhìn các công ty Nhật kinh doanh, thay vì chỉ chăm chăm vào lợi nhuận, họ sẽ đồng thời đầu tư về cuộc sống cho con người lâu dài. Người Nhật thường chọn những điểm tinh tế, mang giá trị nhân bản nhiều hơn là tạo ra những sự kiện ồn ào.

Giữa một thành phố “tấc đất, tấc vàng” như Sài Gòn, trung tâm thương mại do Nhật đầu tư vẫn xây những hành lang rộng, đặt ghế ngồi cho khách thư giãn, dành diện tích đáng kể cho cây xanh. Tôi rất thú vị khi phát hiện Aeon mall là trung tâm thương mại duy nhất ở Sài Gòn có hẳn một khu vực dành riêng các bà mẹ cho con bú. Đó là một căn phòng kín đáo, đẹp, sạch sẽ ngay vị trí thuận tiện. Căn phòng ở vị trí đắc địa này, dân không có đầu óc kinh doanh như tôi cũng đã nghĩ mình có thể làm được khối việc đẻ ra tiền. Người Nhật hào phóng quá chăng? Dĩ nhiên là không nhé! Dulichgo

Tôi và Minami Hiroya thường đến chuỗi cửa hàng tiện lợi 24h mang đậm chất gia đình của Nhật. Tôi vốn không thích những kiểu kinh doanh công nghiệp thế này nhưng ở đây lại khác. Họ hiểu cuộc sống vội vã và tâm lý ăn uống của người Sài Gòn nên tiên phong trong việc bán các món ăn chế biến nhanh trong tiệm.

Tôi có thể ăn mì, xúp nóng hổi trong tiệm bằng cách tự phục vụ chứ không phải những món đồ khô ngán ngẩm. Minami Hiroya thì tìm được nhiều món quen quê nhà dù giá cả không mềm lắm. Ở cửa hàng này chúng tôi còn có thể ngồi nhẩn nha ăn uống trò chuyện hay ngồi quay mặt ra khung kính nhìn dòng người tất tả ngược xuôi. Tận hưởng trong khung cảnh “mì ăn liền” này, tại sao không nhỉ?

Tôi có nhiều cô bạn đang đam mê sưu tầm gốm Nhật. Thú chơi này ngày càng phổ biến, tạo thành một cộng đồng sưu tầm lớn mạnh. Thú chơi gốm thanh tao không chỉ thỏa mãn đam mê cá nhân mà còn góp phần nâng cao óc thẩm mỹ của người sưu tầm. Gốm Nhật không chỉ vào các cửa hàng. Các lớp học dạy cách làm gốm cũng "ăn nên làm ra". Học trò thường là cặp đôi mẹ và con, hay một nhóm bạn cùng tuổi, họ chăm chú nặn gốm theo hướng dẫn của thầy cô. Tay xoay đều bàn đặt gốm, rồi gọt vát gốm sao cho khéo léo để ra hình vóc cái tô, cái ly...

Những chiếc dĩa, cái chén nho nhỏ nhưng thấm đậm triết lý duy mỹ của người Nhật “ra lò” đã khiến cuộc sống người chơi thêm thú vị. Nước Nhật, người Nhật khởi đầu ở Việt Nam với dấu ấn Hội An. Nhưng đến nay, Sài Gòn lại là nơi giữ chân, tạo điều kiện, gieo cảm hứng để người dân xứ sở mặt trời mọc gắn kết lâu dài, hình thành một cộng đồng có màu sắc riêng biệt. Tôi vẫn còn nhớ tâm tình của những người bạn Nhật trong lần đầu gặp gỡ.

Anh Minami Hiroya đã thích thú với sự biến đổi không ngừng của Sài Gòn. Điều đó cho anh cảm thấy, nơi này còn nhiều năng lượng, còn nhiều điều để khai phá. Còn đối với vợ chồng thầy Koda Minoru thì Sài Gòn là một vùng đất mới dù còn nhiều điều bất tiện nhưng ông bà lại hồ hởi đón nhận, xem đó là một sự trải nghiệm thú vị. Nhưng không ai, trong cả hai người trả lời được câu hỏi của tôi: vì sao yêu Sài Gòn? Bởi với họ, yêu là yêu, chỉ vậy thôi!

Theo Phạm Ngọ / Báo Phụ Nữ
Du lịch, GO!

Monday, February 23, 2015

Về Bùi Xá nghe hát trống quân

Bắc Ninh - vùng đất giàu truyền thống văn hóa, khoa bảng, chiếc nôi của văn hóa xứ Bắc, không chỉ được biết đến là địa phương có hai di sản là dân ca quan họ Bắc Ninh - di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại và ca trù - di sản văn hóa phi vật thể cần bảo vệ khẩn cấp, mà còn có loại hình nghệ thuật độc đáo là hát trống quân.

Nghệ thuật hát trống quân Bùi Xá, xã Ninh Xá, huyện Thuận Thành, được người dân nơi đây bảo tồn và phát triển đã hàng trăm năm. Không cầu kỳ như quan họ mà thường nôm na theo kiểu ngẫu hứng phổ theo thơ lục bát, nhưng mỗi đám hát trống quân ngày xưa trong làng Bùi Xá đều khiến các đôi trai gái khắp vùng mê mải. Họ hát thâu đêm tới sáng, tiếng hát trống quân râm ran từ trong làng ra đến ngoài đồng.

< Lê Bá Bạo 72 tuổi, Chủ nhiệm CLB Trống quân Bùi Xá, một trong những thành viên đầu tiên của CLB của những người yêu thích hát trống quân.

Cụ Phạm Công Ngát, năm nay 88 tuổi, nghệ nhân hát trống quân cao tuổi nhất trong làng cho biết gia đình cụ đã có truyền thống 4 đời hát trống quân và đều trở thành những ông trùm của gánh hát. Năm 14 tuổi, cụ đã theo cha đi hát khắp mọi nơi. Dulichgo

Phong trào hát trống quân ở làng Bùi Xá, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh đã có từ thế kỷ thứ XIII dưới triều đại nhà Trần. Hát trống quân nơi đây cùng với một số gánh hát như Bá Đạt (Vĩnh Phú), Dạ Trạch (Hưng Yên) đã từng nổi tiếng khắp kinh thành Thăng Long và được vua Trùng Quang đời Trần mời về kinh thành hát cho vua nghe.

< Ông Phạm Công Ngát (88 tuổi) là người đã sưu tầm và hiện là tác giả của hơn 100 bài hát trống quân của CLB Trống Quân Bùi Xá.

Thời kỳ trước cách mạng tháng Tám năm 1945 là giai đoạn phát triển thịnh vượng nhất của nghệ thuật hát trống quân Bùi Xá. Loại hình nghệ thuật này đã trở thành nét đẹp văn hóa tinh thần không thể thiếu của người dân nơi đây. Trong làng, từ già tới trẻ ai cũng biết hát. Hàng năm, mỗi độ Thu về vào khoảng trung tuần tháng Tám âm lịch, nhân dân trong làng lại tưng bừng mở hội hát trống quân cầu "sóng lặng, nước yên, lúa tốt mượt đồng, thiên thời, địa lợi, nhân hòa." Ngày ấy, con trai từ khắp bốn phương tấp nập kéo nhau về đêm hội cùng so tài đối đáp hết đêm này qua đêm khác. Cũng từ đó, đã có rất nhiều đôi nam thanh nữ tú nên duyên vợ chồng.

Sau năm 1945, cùng với nhiệm vụ đánh giặc cứu nước của toàn dân tộc, nghề hát nơi đây lắng dần, chỉ còn một số nghệ nhân mang theo những tiếng hát, lời ca đi khắp các chiến trường.

Năm 1993, những người tâm huyết với trống quân trong làng thành lập câu lạc bộ Trống quân Bùi Xá gồm 5 thành viên. Trong quá trình hoạt động, câu lạc bộ thường xuyên luyện tập và sưu tầm được hơn 100 bài hát trống quân cổ, góp phần bảo tồn môn nghệ thuật trình diễn độc đáo trên quê hương Kinh Bắc-Bắc Ninh.

Cụ Vũ Thị Kiểm (vợ cụ Phạm Công Ngát) hiện đã sang tuổi 86 nhưng vẫn hăng say truyền nghề và là người có công lớn nhất trong việc lưu truyền trống quân Bùi Xá cho biết trống quân là hình thức hát đối đáp, giao duyên của các đôi nam thanh nữ tú. Hai bên bày tỏ tâm tư, tình cảm của mình trong những lời ca tiếng hát. Khi hát, phải tuân thủ đúng nguyên tắc chung là chào, mừng, chúc, hỏi. Trong quá trình đối ứng, các bên sẽ mở rộng ra các chủ đề như "đi chơi đi tìm," "cầm kỳ thi họa"... Dulichgo

Cụ Kiểm tâm sự Bùi Xá là một trong những nơi còn lưu giữ được nghệ thuật hát trống quân theo lối cổ. Khác với dòng Trống quân Bắc Bộ, hát đơn giản, nhịp điệu nhanh, ngắt quãng nhiều, ít luyến láy và theo thể lục bát (6/8), để hát được trống quân Bùi Xá, người hát phải vừa tạo nên cái bản sắc riêng có, vừa tuân thủ âm điệu chung của loại hình trống quân.

Người hát Trống quân Bùi Xá hát theo lối văn thập cửu (10/9) nhưng vẫn giữ được tiết tấu lục bát của trống quân. Điều đặc biệt, trống quân nơi đây mang âm hưởng của quan họ cổ nên còn gọi là thể loại quan họ thứ 2. Theo cụ, để hát trống quân hay đòi hỏi người hát phải có nhiều yếu tố như giọng hát, lòng đam mê, khả năng ứng đối nhanh nhẹn trong những cuộc thi hát. Cùng với sự phát triển của xã hội, nhiều loại hình nghệ thuật dần bị mai một. Để Trống quân Bùi Xá tồn tại và phát triển, các nghệ nhân xưa đã có những bước cải tiến đáng kể.

Ông Lê Bá Bạo, Chủ nhiệm Câu lạc bộ Trống quân Bùi Xá cho biết thành công nhất của Trống quân Bùi Xá là những nghệ nhân nơi đây đã có sự sáng tạo khi đưa trống quân dân gian lên sân khấu. Khi biểu diễn, nhạc cụ duy nhất của trống quân là trống đất để giữ nhịp. Xưa kia, trống đất được làm bằng hai cọc tre cao khoảng 1 mét và một sợi dây thừng gác ngang, giữa sợi dây buộc một thanh tre vuông góc, một đầu chống lên miếng ván mỏng đặt hờ trên một hố đất có bán kính bằng miệng chum, bên trong sâu đầy vỏ ốc.

Khi đối đáp, bên nào hát dứt câu thì đánh vào phần dây... đặt đầu cọc vừa để làm nhịp "lưu không," vừa để thúc giục phe bên kia họa lại.

Ngày nay, cách làm trống không còn cầu kỳ nữa chỉ gồm một thanh gỗ nằm ngang, hai bên có hai cọc, một bên cọc là phe nam, một bên cọc là phe nữ đứng đối đáp. Hai cọc được nối với nhau bằng sợi dây thép, chính giữa sợi dây đặt một cái trống, mặt rỗng úp xuống thanh ngang, mặt đáy sát sợi dây. Người ta gõ vào đầu dây ở phía cọc, dây bật vào đáy trống mà kêu thành tiếng.

Câu lạc bộ Trống quân Bùi Xá hiện thu hút được 28 thành viên ở nhiều lứa tuổi từ 39 đến 88 tuổi, hoạt động đều đặn vào 3 buổi tối từ thứ Sáu đến Chủ Nhật hàng tuần, trong đó có nhiều gia đình duy trì nhiều thế hệ cùng đi biểu diễn. Điều đáng mừng là mỗi buổi sinh hoạt ngoài sự có mặt của đông đủ các thành viên trong câu lạc bộ, còn có sự quan tâm rất lớn từ các cháu thanh, thiếu nhi trong làng.

Tuy nhiên, việc bảo tồn và phát huy giá trị độc đáo từ loại hình nghệ thuật này còn gặp nhiều khó khăn. Do không có môi trường để thế hệ trẻ cảm thụ đầy đủ cái hay, cái đẹp của đêm hội trống quân, các em chỉ có thể mường tượng về nó qua những tiết mục văn nghệ. Mặc dù lớp nghệ nhân cao tuổi trong làng Bùi Xá nay còn 6 người nhưng đa số các cụ đã già yếu, không đủ sức khỏe để hát, thế hệ kế cận cũng đã ngoài 50 tuổi.

Về lâu dài, nếu muốn loại hình nghệ thuật này tồn tại và phát triển được, cần có sự quan tâm, đầu tư thích đáng của cả hệ thống chính quyền và người dân nơi đây.

Theo Vietnamplus, Báo Ảnh VN
Du lịch, GO!