Showing posts with label Hồ. Show all posts
Showing posts with label Hồ. Show all posts

Sunday, February 22, 2015

Truyền thuyết 7 hồ ở Măng Đen

Bảy hồ và ba thác nước tuyệt đẹp ở khu du lịch sinh thái Măng Đen (H.Kon Plông, Kon Tum) được người Mơ Nâm địa phương lý giải bằng câu chuyện đắm màu huyền thoại. Già làng A Đồ Ren ở làng Kon Bring (xã Đăk Long, H.Kon PLông) kể, người Mơ Nâm gọi Măng Đen là T'măng Deeng, nghĩa là đất bằng (rộng lớn). Dulichgo

Yang Plinh nổi giận

Trong truyền thuyết “Bảy hồ và ba thác”, ngày xưa Măng Đen là vùng bằng phẳng, đẹp lạ lùng với rừng thiêng xanh mênh mông trải dài như dải lụa. Dù đẹp vậy nhưng Măng Đen lại không có người và loài vật sinh sống.

Một hôm, Yang Plinh (tương tự như Ngọc Hoàng thượng đế) từ trên trời nhìn xuống Măng Đen cảm thấy buồn bã, bèn gọi 7 người con trai đến, gồm: Gu Kăng Đam, Gu Kăng Lung, Gu Kăng Rpong, Gu Kăng Zơ Ri, Gu Kăng Ziu, Gu Kăng Săng và em út là Gu Kăng Pô. Yang Plinh phán: Các con hãy xuống Măng Đen lập làng. Mỗi người được phong thần cai quản một vùng đất, gọi là Huynh.

Xuống lập làng, 7 người con của Yang Plinh lấy vợ, nhưng các bà vợ phải biến thành loài vật. Vợ của Gu Kăng Đam, Gu Kăng Rpong biến thành heo thần gọi là Chu Huynh, vợ của Gu Kăng Zơ Ri, Gu Kăng Ziu, Gu Kăng Săng biến thành nai thần gọi là Zoi Huynh, vợ của Gu Kăng Lung biến thành cá thần gọi là Ca Huynh và vợ của Gu Kăng Pô biến thành thằn lằn thần gọi là Pô Huynh. Các bà vợ có trách nhiệm cai quản những con vật cùng loài với mình. “Các ngươi suốt đời không được ăn thịt các loài do vợ mình biến thành. Nếu phạm lỗi thì sẽ bị trừng phạt”, Yang Plinh căn dặn các con. Dulichgo

Nhờ đất đai màu mỡ, thời tiết thuận hòa, các vị thần lại dạy cho con cháu dựng nhà, làm rẫy, săn thú, dệt vải, đan lát, hát ca, đánh cồng chiêng…, 7 làng của 7 anh em ở Măng Đen ngày càng sung túc. Mỗi năm, những người con của Yang Plinh về báo cáo với cha mình về công cuộc chăn dắt loài người ở Măng Đen. Sau này, cuộc sống ở trần gian say mê hấp dẫn, người làng ngày càng đông đúc nên các thần phải thường xuyên đi đây đó chăn dắt giúp đỡ dân và họ không về trời nữa. Dulichgo

Tuy vậy, mỗi năm khi lúa đã về đầy kho, heo gà đầy sân, thịt thú rừng cũng như cá ở suối được sấy khô gác đầy trên chạn bếp, con trâu, con bò, con dê thả trong rừng béo mập là lúc 7 vị thần dạy dân làm lễ ăn trâu cúng Yeeng (gọi là ăn trâu mừng năm mới). Những lần cúng Yeeng, người dân mặc đồ đẹp nhất, uống rượu và ăn những món ngon nhất, ca hát nhảy múa từ đêm này sang đêm khác. Trong những lần cúng Yeeng, nhất thiết phải có cây nêu vẽ hình trang trí thể hiện cuộc sống xung quanh họ, hình núi non, sông nước và trên cùng là hình mặt trời. Thông qua cây nêu (tượng trưng cho đường lên trời) các Huynh báo cáo với Yang Plinh về cuộc sống ở trần gian.

Trong các lễ hội này, các vị thần cũng vui chơi nhảy múa, ăn uống với dân làng. Thế rồi có một lần, do vui chơi, ăn uống cả tuần, những người con Yang Plinh quên mất lời cha dặn, ăn cả thịt cùng loài với vợ mình biến ra, chỉ có người em út là Gu Kăng Pô ở làng Huynh Pô là còn nhớ lời cha không ăn thằn lằn. Từ trên trời nhìn xuống, Yang Plinh nổi giận, dùng lửa trừng trị 6 đứa con trai lớn. Giữa lễ hội đông vui, giông tố nổi lên đùng đùng, 6 cột lửa trên trời đánh xuống 6 làng của 6 người anh, lửa phụt lên mù mịt, đất đá biến thành nước chảy tràn khắp vùng, nhà cửa tài sản, con người cũng như các Huynh đều bị nhấn chìm trong biển lửa. Dulichgo

Người em út làng Huynh Pô, dù không ăn thằn lằn nhưng biết mà không nhắc nhở các anh mình cũng bị trừng trị bằng một cột lửa. Nhưng Yang Plinh cho lựa chọn một là dân làng phải chết hoặc Gu Kăng Pô phải chết. Vì quá thương xót dân làng nên Gu Kăng Pô tự nhận cái chết về mình và xin mang theo một đứa nhỏ để hầu hạ. Các cột lửa từ từ tắt sau khi đã nuốt vào lòng đất toàn bộ con người và tài sản của 6 làng và 6 miệng cột lửa đó biến thành 6 cái hồ lớn. Dân làng Huynh Pô sống sót chuyển đi nơi khác và tại miệng hố lửa làng này cũng biến thành một hồ nhỏ. Trong khi Yang PLinh trừng phạt những đứa con trai, có ba cột lửa bắn lên và biến thành ba thác nước ở Măng Đen bây giờ. 

Vùng đất của núi lửa

Theo già làng A Roi ở làng Kon Bring (xã Đăk Long, H.Kon PLông), truyền thuyết “bảy hồ, ba thác” xuất hiện từ bao giờ không ai rõ. Tuy nhiên, không chỉ có chuyện kể ở trên mà còn có một số dị bản lưu truyền qua lời kể của người Mơ Nâm ở vùng Măng Đen. Theo ý kiến một số người, có thể vùng đất này ngày xưa có núi lửa, vì theo truyền thuyết lửa đã biến vùng này thành 7 cái hồ lớn nhỏ, đồng thời đất ở đây là đất bazan, phù hợp trồng các loại cây công nghiệp, nhất là cà phê, khác với H.Ba Tơ (Quảng Ngãi) và Kon Rẫy (Kon Tum) sát bên chỉ có đất thịt pha cát, hoặc tỷ lệ đất bazan trong đất rất ít. Dulichgo

Theo Sở VH-TT-DL tỉnh Kon Tum, các hồ ở Măng Đen hiện lớn nhất là 3 ha, nhỏ nhất 0,5 ha. Đó là các hồ Toong Đam, Toong Ly Lung, Toong Zơ Ri, Toong Ziu, Toong Xăng, Toong Rơ Poong và Toong Pô. Theo tiếng Mơ Nâm, Toong có nghĩa là “nước”. Tuy nhiên, những truyền thuyết về các hồ này đang dần mai một nên cần phải viết thành sách dạy lại cho học sinh ở địa phương.

Theo Phạm Anh (Thanh Niên)
Du lịch, GO!

Wednesday, February 11, 2015

Hồ Nau kon đơi ở Đắk Glong

Bon Phi Mur, xã Quảng Khê (Đắk Glong) có một cái hồ khá đẹp. Đồng bào người Mạ ở Quảng Khê gọi hồ này với cái tên Nau kon đơi, dịch ra tiếng phổ thông nghĩa là Mồ côi.

Truyền thuyết kể rằng: hai anh em nhà nọ mồ côi cha mẹ nên ở với bà ngoại đã già yếu. Chúng rất ham chơi cù. Nhiều lần vì mải chơi cù mà chúng quên mất rằng bà ngoại luôn phải chật vật làm lụng và lo lắng cho bữa ăn hàng ngày. Bà ngoại thì nghĩ chỉ vì cái cù mà các cháu ham chơi. Một ngày kia, bà gọi hai cháu đến và bảo: “Bà mệt và rất thèm ăn xoài. Các cháu ra cây xoài mốc bên suối Play Lắt hái cho bà mấy trái”. Hai cháu đi rồi, bà ngoại liền lấy cái cù mà chúng thường đem giấu vào ổ trứng gà đang ấp...

Khi hái được xoài về nhà, tìm mãi không thấy cái cù để chơi, hai đứa nhỏ tức giận bỏ ra suối Play Lắt. Chúng hậm hực, dậm chân thình thịch xuống đất. Đất lún xuống và nước dần dần dâng lên rồi làm chìm cả hai anh em.

Chờ lâu không thấy hai cháu về, bà ngoại đi tìm. Khi đến nơi thì hai người cháu đã chết trong cái hồ mới hình thành. Buồn thương con trẻ, bà ngồi mãi bên hồ than khóc và hóa thành một mỏm đá ở đó. Dulichgo

Hiện nay, hồ Nau kon đơi đã được Nhà nước đầu tư kinh phí để nâng cấp thành hồ chứa có dung tích lớn, đủ nước phục vụ cho sinh hoạt và tưới tiêu của 180 ha cây trồng, tạo nhiều thuận lợi cho đời sống của đồng bào người Mạ ở địa phương này.

Theo Vũ Ngọc Tú (báo Đắk Nông)
Du lịch, GO!

Monday, January 19, 2015

Bắt tôm trên đầm Trà Ổ

Đầm Trà Ổ là đầm nước ngọt lớn của huyện Phù Mỹ và tỉnh Bình Định, còn có tên gọi là Đầm Châu Trúc vì phía bắc của Đầm có hai thôn Châu Giang và Trúc Võng. Trước đây đầm nối với biển bằng cửa Hà Ra nhưng hiện nay cửa này chỉ thông biển vào mùa mưa còn mùa khô thì bị bồi lấp.

Mặt nước mênh mông của đầm giáp với các xã: Mỹ Thắng, Mỹ Châu, Mỹ Lợi và Mỹ Đức. Đầm Trà Ổ không chỉ đẹp mà nơi đây còn là môi trường sinh sống của nhiều loài thủy sản mang lại nguồn sống đáng kể cho người dân ven đầm và khi nói đến các loài thủy sản quý, có giá trị dinh dưỡng và kinh tế cao trong Đầm Trà Ổ không thể không nhắc đến con tôm đất bé nhỏ, căng tròn, tươi xanh...

< Để bắt con tôm dưới đầm nước mênh mông, bên cạnh chiếc xuồng làm bằng tôn, hoặc sõng nan người bắt tôm phải có 'dẹp' tôm (rọ).

Con tôm trong đầm Trà Ổ làm ngọt ngào tô bún tôm, dẫu ai đó dù chỉ một lần thưởng thức cũng khó quên hương vị đặc trưng món bún tôm Châu Trúc nói riêng và Phù Mỹ nói chung. Tuy nhiên, nếu có dịp về Phù Mỹ, du khách có thể xem cách bắt tôm của người dân nơi đây cũng không kém phần thú vị như tô bún tôm Châu Trúc nổi tiếng… Dulichgo

< 'Dẹp' được bà con tự đan để dùng, vật liệu chủ yếu nan tre, đan dày, có hình tròn chiều dài thường 4 tấc (40 cm), đường kính 1,5 tấc, toi nhỏ ở 1 đầu. Hầu hết bà con thôn Châu Trúc (xã Mỹ Châu) đan dẹp để thả, còn thừa đem bán, bình quân 4.000đồng/dẹp.

Theo bà con quanh đầm, kể cả mùa nước cạn đến mùa nước lũ, thả dẹp đều có tôm, nhưng từ tháng 3 đến tháng 8 ÂL hàng năm, mùa nước cạn sản lượng tôm đạt cao, bình quân thả mỗi đêm thả 1.000 - 1.500 dẹp, bắt được 3 - 5kg tôm; còn mùa nước nổi thì ít hơn…

< Tuy nhiên để tôm vào dẹp phải dùng mồi. Mồi bỏ vào rọ để nhử tôm được chế biến bằng cám heo và cua (bắt ngay trên đầm) giã nhuyễn, bóp thành viên dài (gần bằng ngón tay cái), đem nướng cho sém khô, tỏa hương thơm.

Hiện nay, lượng tôm có giảm, nên giá tăng cao, bình quân  100.000đồng/kg, người bắt tôm có thể kiếm cả trăm ngàn đồng mỗi ngày. Dulichgo

< Nhiều hộ dân quanh đầm chuyên nghề bắt tôm thả cả ngàn rọ tôm. Một hàng dây dừa giăng thả cả trăm chiếc rọ tôm có phao nổi để biết. Hai đầu dây được cột vào hai trụ cây hay hai hòn đá nặng thả xuống nước. Bỏ mồi xong, rọ được cột trên dây dừa, thả treo lưng chừng mực nước.

Những mùa tôm Đầm Trà Ổ đã góp phần cho bà con có nhà xây, xe máy, điện thắp sáng, tiền cho con ăn học và cả thú vui tao nhã cùng ông mặt trời mỗi sớm tinh sương thức dậy hối hả ra đầm giở dẹp, bắt tôm...
Và cũng nhờ nghề này mà ở Phù Mỹ có món bún tôm Trà Ổ (Châu Trúc) nổi tiếng.

< Mỗi đêm chỉ thả rọ tôm 1 lần, đến sáng tinh sương những đàn ghe hối hả ra đầm kéo dẹp, trút tôm. Trút xong, lại bỏ mồi, lại thả, sáng hôm sau ra trút tiếp. Và cứ vậy, có nước, có thả dẹp, nhất định ít nhiều sẽ có tôm.

Nét đặc trưng của bún tôm Trà Ổ, trước hết là ở cách làm bún. Bún không phải làm sẵn bán ở chợ, hay được mua ở các lò bún nổi tiếng. Người bán bún tôm chế biến sợi bún ngay tại chỗ. Khi có khách vào, chủ quán mới bắt đầu ép bột gạo đã xay sẵn, xong hấp trong nồi nước đang sôi. Sợi bún rất nhỏ, mềm và trắng muốt. Tôm dùng làm bún là những con tôm sinh sản tự nhiên, còn sống, được đánh bắt từ đầm Trà Ổ. Dulichgo

< Hơn 300 hộ quanh đầm sống nhờ vào con tôm tươi hấn, bụ bẩm, săn chắc và ngọt thịt, với sản lượng không ít, khi vừa mới lên bờ đã có đại lý thu mua.

Tô bún tôm Trà Ổ có hương vị rất đặc biệt. Đầu tiên, người ta giã nhuyễn tôm sống đã lột vỏ, nhúng qua vào nồi nước đang sôi rồi cho bún vào tô, chế nước xáo bún vào, rắc một ít tiêu bột, một ít bột ngọt, một ít hành hương. Thế là đã có ngay một tô bún tôm nóng hổi, tỏa hương thơm rất hấp dẫn.

Thường thì bún tôm được ăn kèm với bánh tráng gạo nướng. Nhiều người mới ăn lần đầu chưa thấy thích, nhưng ăn nhiều lần thì nghiện lúc nào không hay. Nghiện vì chất ngọt của nước xáo bún, của mùi hành hương thơm ngát và nghiện luôn cả cái giá rất bình dân.

Đầm Trà Ổ cũng là nơi tổ chức hội đua thuyền truyền thống hàng năm vào dịp xuân về. Đây là giải đấu thường niên và cũng là giải đua lớn nhất Bình Định. Thông thường thì với giải nam, các đội phải trải qua 5 vòng 10 dạo (tổng cộng khoảng 10 km). Về đội nữ với sức lực yếu hơn nên chỉ phải thi đấu 4 vòng 8 dạo (tổng cộng 8 km). Sau hiệu lệnh xuất phát của ban tổ chức, những tiếng hò reo cổ vũ của khán giả vang lên, đầm Trà Ổ bắt đầu dậy sóng.

Du lịch, GO! tổng hợp từ báo Bình Định và nhiều nguồn khác.

Sunday, January 11, 2015

Khám phá lòng hồ Thủy điện Bản Vẽ - K2

(BNA) - Ai chưa một lần đến lòng hồ Thủy điện Bản Vẽ, hẳn không tránh được mường tượng về sự nguy hiểm khi đặt chân lên những chiếc thuyền nhỏ bé giữa mênh mông mặt nước sâu hàng trăm mét. Thế nhưng, mường tượng ấy dường như dần tan đi khi đối diện với mặt hồ phẳng lặng, bình yên, với những tay lái thuyền cự phách, giàu kinh nghiệm…

Về nghề lái thuyền trên lòng hồ Thủy điện Bản Vẽ, cô bạn đồng nghiệp dành hẳn vài trang nhật ký hành trình cho những người cầm lái thiện nghệ này. “Ngày 1/1/2015: Ngày đầu tiên của năm mới, chúng mình đang có mặt tại bến thượng lưu của lòng hồ. Nghe bảo hồ rộng tới gần 5.000 ha, mênh mông nhưng không có cảm giác sợ hãi rợn ngợp bởi mặt nước rất êm, không gợn sóng. Nhiệm vụ quan trọng phải làm ngay là chia nhau ra, tìm một người lái thuyền thật giỏi và tính cách dễ chịu để làm hoa tiêu cho chuyến đi dài ngày này…”.

Nhiệm vụ tối quan trọng mà cô bạn phải kỳ công nhấn mạnh ấy quả không dễ dàng thực hiện. Đoàn 4 người, tỏa ra khắp hướng, dò dẫm đủ các quán nước trên bến thượng lưu và hỏi vân vi đến cả đội xe thồ, xe khách đứng tản mát trên vệ đường. Xin thưa ngay, phải tốn thời gian và công sức thế, không phải vì người lái thuyền trên mặt hồ lặng sóng này hiếm có, khó tìm. Mà bởi lẽ, người làm nghề vô thiên lủng, nhưng cái tiêu chí kén chọn phải vừa “thật giỏi và tính cách dễ chịu” chúng tôi đặt ra thì quả cũng có phần “cao giá”, nhất là trong thời điểm nghỉ lễ tết dương, nhu cầu giao thông, giao thương qua lòng hồ tăng cao. Những chiếc thuyền ba lá đậu kín bến, chủ thuyền tất bật buộc neo, giăng bạt, đổ xăng… còn khách hàng đủ thành phần, lứa tuổi, trang phục, lỉnh kỉnh đồ đạc, hàng hóa đứng chờ thuyền đủ khách cho một lần xuất bến. Loáng thoáng tiếng hỏi giá thuyền: “Chuyến về Hữu Khuông bao nhiêu một người?  50 nghìn nhé!”. Thuyền mùa cao điểm chẳng hiếm khách, thế nên phải vòng đi vòng lại, chúng tôi mới tìm được một chủ thuyền mặn chuyện chịu sẻ chia chút chuyện nghề.

Bộ đồ đi mưa xanh Cửu Long bết đầy bụi và bùn đất, sột soạt ôm lấy dáng người nhỏ thó, nước da đen sắt và khuôn mặt sùm sụp chiếc mũ lưỡi trai sờn rách, ông Vi Viết Tiến- người lái thuyền mà chúng tôi mừng húm “túm” được khi ông đang sòng sọc cữ thuốc lào đầu ngày. Anh bạn trẻ đồng nghiệp khéo đẩy đưa câu chuyện chung về “tình yêu thuốc lào”, rồi rẽ ngoặt về cái nghề lái thuyền trên lòng hồ, cái mẹo giao tiếp ấy thế mà được việc ra trò! Mắt lim dim dõi ra phía lòng hồ đang ánh lên những tia nắng ban mai, ông bảo, gắn với nghề này đã ngót chục năm ròng, từ khi dòng Nậm Nơn chưa được ngăn dòng cho đến hôm nay là lòng hồ Thủy điện Bản Vẽ.

Cũng như nhiều gia đình khác, trước, gia đình ông thuộc xã Hữu Dương, nhưng khi có chủ trương di cư nhường chỗ cho lòng hồ thủy điện, cả gia đình chuyển về tái định cư ở bản Đại Sơn, xã Thanh Sơn, huyện Thanh Chương. Di cư theo chủ trương của nhà nước, cho dòng điện lưới quê hương, nhưng khi về nơi ở mới, gia đình ông phải đối mặt với nhiều khó khăn. Vợ con nheo nhóc lại chưa có đất sản xuất, cuộc sống phần lớn phải phụ thuộc vào hỗ trợ gạo hàng năm. Năm 2011, mấy người bạn nghề rủ rê, đã gắn với nghề sông nước thì phải chịu thương, chịu khó, lại về với cái nghiệp lênh đênh đi thôi! Đến giờ, ông vẫn thầm cảm ơn cái sự rủ rê lẫn động viên ấy, bởi nghề lái thuyền mấy năm nay đã mang lại cho gia đình ông nguồn thu nhập khá ổn định, dẫu không lấy gì làm khá giả, nhưng chí ít cũng thoát cảnh phụ thuộc vào trợ cấp nhà nước.

Chỉ tay vào chiếc thuyền gỗ đậu mép lòng hồ, ông bảo, thuyền được đóng bằng tiền đền bù giải phóng mặt bằng mấy năm trước. Gỗ đóng thuyền là do tự tay ông tìm mua, rồi cất công lên tận xã Mỹ Lý (Kỳ Sơn) thuê thợ mát tay đóng thuyền, lại hỏi han mua máy gắn thuyền hết tất tật 50 triệu đồng. Vợ con đã ổn định tại nơi ở mới, ông một mình vào lòng hồ sinh sống, không nhà cửa, ông dựng cái lán tạm lênh đênh bên mép nước trên địa bàn xã Nhôn Mai làm nơi trú ngụ khi đêm xuống. Hàng ngày, công việc của ông là chở khách từ bến Nhôn Mai ra bến thượng lưu và ngược lại.

Con thuyền bằng gỗ de của ông dài hơn 11 m, khoang rộng gần 1,5 m, mỗi chuyến được phép chở 6 – 7 người. Từ Nhôn Mai ra bến thượng lưu, thời gian chạy thuyền ngót 2 giờ đồng hồ, ông Tiến thu mỗi khách 70 nghìn đồng. Nếu đủ khách, mỗi chuyến trừ chi phí tiền đổ xăng, còn lãi tầm 300 nghìn đồng. Tuy nhiên, không phải ngày nào cũng được như vậy. “Trúng dịp lễ, tết hoặc ngày nghỉ cuối tuần, học sinh, sinh viên với cán bộ công chức mới ra vào nhiều, ngày thường cũng vắng lắm.” – ông Vi Viết Tiến trần tình. Chúng tôi đặt vấn đề mời ông cùng “làm” một chuyến lênh đênh hẳn hoi, du ngoạn đến tận cùng dài rộng lòng hồ cho thỏa thú vẫy vùng năm mới. Tiếc thay, chuyến đi dài ngày quá, và ông thì còn chút việc gia đình cần về gấp nay mai.

Nhật ký hành trình của cô bạn đồng nghiệp hẳn sẽ dài thêm với những dòng lâm ly cảm thán, nếu sáng ngày hôm đó, chúng tôi không gặp may mắn tìm được một “tay” lái thuyền trẻ tuổi. Lương Văn Tửm, 22 tuổi đã đề huề vợ con. “Người vùng cao thường lấy vợ sớm mà. Không đi học xa, không làm cán bộ thì lấy vợ thôi!”- Tửm thật bụng trả lời thắc mắc của chúng tôi. Cái tên Tửm của chàng ta nghe cũng khá lạ lùng, anh bạn đồng nghiệp là đồng bào dân tộc Thái cắt nghĩa: Tửm có nghĩa là thêm, là đầy đặn. Ra vậy, Lương Văn Tửm là con út trong gia đình, cái tên ấy là sự thêm vào cho tròn đầy, ấm cúng. Nhìn dáng vẻ bên ngoài, tưởng như không có cái tên nào hợp với Tửm hơn được nữa. Tửm vóc người mập mạp nếu không muốn nói là tròn ú, mái tóc đen bóng và xoăn tít. Lối chuyện trò của cậu chàng toát vẻ chất phác và gọn gàng. Chuyện sông nước mênh mông tưởng như không thấy đường chân trời mà tay lái trẻ này kể cứ gọn ơ như không! “Lớp 9 đã cầm lái rồi mà, không sợ gì hết. Mà hồi đó là sông Nậm Nơn lắm thác, lắm ghềnh, chứ không phải là mặt hồ phẳng lặng thế này đâu.”- Tửm nói nhát một.

Và Tửm nói thật. Gần tuần lễ lênh đênh lòng hồ, chiếc thuyền ba lá gắn động cơ 13 mã lực trong tay Tửm như một chú ngựa ngoan hiền dễ bảo. Tửm ngồi đằng chân thuyền, mem mép ghé bàn tọa lên thanh gỗ nhỏ, một tay cầm chắc tay lái định hướng. Gió hun hút thổi, động cơ phành phạch khua mặt hồ bình lặng thức dậy những đợt sóng xôn xao, lúc nhanh, lúc chậm, lúc rẽ ngang, lúc dừng lại theo yêu cầu của đoàn khách khó tính đang săn tìm những “đúp”, những cảnh đẹp kỳ vĩ lòng hồ. Bình thường phải “tội” ít chuyện, còn thì nếu khéo hỏi, Tửm thoắt trở thành hướng dẫn viên du lịch chẳng kém cạnh ai, với lối giới thiệu địa danh chính xác, bổ sung cả những truyền thuyết bí hiểm của đồng bào.

Nào đây là bản Xốp Lằm, Chà Coong, Nhạn Ninh, Nhạn Pá…; nào thì hang Thằm Nặm… Lương Văn Tửm chia sẻ những kỷ niệm không thể quên của nghề lái thuyền trên dòng Nậm Nơn ngày nào, với những dốc thác cuồn cuộn, những ghềnh lên gấp xuống mà dẫu tay lái thiện nghệ mấy cũng dễ phải run tay. Cậu chàng bảo, nghề nào cũng phải thuộc mẹo luật, mà mỗi người lái có cho riêng mình một kinh nghiệm khác nhau. Lái thuyền 24 mã lực khác thuyền 13 mã lực, lúc cần chèo tay, lúc cần nghiêng lái… Giờ, lái thuyền trên lòng hồ Bản Vẽ đã không còn hiểm nguy như trên dòng sông Nậm Nơn nữa, thay vào đó là cảm giác bồng bềnh, êm ả, tha hồ thả hồn chiêm ngưỡng vẻ đẹp hoang sơ, kì bí về một nền văn hóa sông nước.

Chiếc thuyền ba lá bé nhỏ trên mênh mông lòng sông, ngút ngát tầm mắt là miên man hoa dại nở bung trắng xóa, thi thoảng qua những khúc rẽ bình lặng, nhìn xuống mặt hồ trong xanh còn thấy cả đàn cá mương tí tách nhảy reo. Chuyến hành trình lòng hồ mở ra những điều thú vị, chúng tôi không hề cảm thấy đơn độc bởi liên tục gặp những chiếc thuyền bạn rẽ sóng gần bên. Nhớ cái thống kê của Phòng Công thương huyện Tương Dương, rằng hiện nay trong lòng hồ Bản Vẽ có gần 70 chiếc thuyền chở khách và khoảng 60 chiếc thuyền dân sinh.

Toàn bộ số thuyền này do người dân tự đóng lấy, tuy nhiên sự an toàn tương đối cao. Hầu như những người làm nghề lái thuyền ở đây là người địa phương, đã từng có kinh nghiệm lái thuyền trên sông Nậm Nơn trước đây và phần lớn đã được cơ quan chức năng cấp chứng chỉ lái thuyền, thuyền nào cũng được cấp phát áo phao cứu sinh đầy đủ. Trước đây, mỗi khi cán bộ huyện vào công tác xã Mai Sơn phải mất đến 1 ngày đường ngồi thuyền trên dòng Nậm Nơn lên thác, xuống ghềnh ẩn chứa nhiều nguy hiểm, thì nay, xuất phát từ bến thượng lưu đến Mai Sơn chỉ mất nhõn 3 tiếng đồng hồ êm ái trên thuyền. Di chuyển bằng thuyền trên lòng hồ Thủy điện Bản Vẽ được nhiều người đánh giá là an toàn, bởi lẽ từ ngày hồ thủy điện tích nước đến nay đã 4 năm, chưa xẩy ra vụ tai nạn đường thủy nào trên lòng hồ…

Mặt nước, đồi núi và những con thuyền chở khách lướt nhẹ trên mặt hồ hòa quyện, hiện ra dưới cái nắng ban mai, tạo cảm giác không khí mát lạnh về mùa hè, rét tê buốt vào mùa đông lấp đầy cơ thể. Một không gian rộng lớn, mờ ảo trong sương mờ khiến cho ta nhỏ bé trước “biển hồ” như kiệt tác thắng cảnh do con người tạo ra trên miền Tây hoang sơ này. Dưới đôi tay thiện nghệ của lái thuyền Lương Văn Tửm, nhiều cảnh đẹp thiên nhiên và bao sự bình dị, lầm lũi cũng như khát vọng của cuộc sống con người lòng hồ dần hiện ra, “hút” đoàn chúng tôi đắm vào chuyến hành trình kỳ thú!

Hết
Kỳ 1 - Kỳ 2

Theo Hoàng - Chi (Báo Nghệ An)
Du lịch, GO!

Khám phá lòng hồ Thủy điện Bản Vẽ - K1

(BNA) - Sau 4 năm đưa vào vận hành 2 tổ máy phát điện của Nhà máy Thủy điện Bản Vẽ, hồ tích nước trên thượng nguồn sông Nậm Nơn thuộc địa bàn huyện Tương Dương và Kỳ Sơn đã trở thành “biển hồ” rộng lớn phía miền Tây Nghệ An.

Bức tranh "sơn thủy hữu tình"

Vẻ đẹp hoang sơ, kỳ vĩ của mặt hồ, núi rừng ấy đã tạo nên bức tranh “sơn thủy hữu tình”. Xung quanh lòng hồ Thủy điện Bản Vẽ rộng tới gần 5.000 ha mặt nước này bây giờ là nơi hội tụ nhiều yếu tố để con người khám phá. Nhóm phóng viên Báo Nghệ An đã có chuyến trải nghiệm thú vị trên lòng hồ vào dịp đầu năm mới này...

Một sáng đầu năm, chúng tôi đặt chân trên bến thượng lưu của lòng hồ Nhà máy thủy điện Bản Vẽ. Đã quen lắm với mùa đông miền sơn cước, nhưng cái rét tê buốt hôm nay vẫn không làm tan đi bao ngỡ ngàng vui khi những ánh nắng hiếm hoi dần xuất hiện. Nắng lấp lánh trên mặt hồ phẳng lặng, óng ánh phản chiếu những mảng mây trắng xóa đủ hình thù đang ôm lấy triền đồi nối dài. Cô bạn đi cùng reo lên: “Kỳ thú quá, hùng vĩ quá!”. Thì đã hẳn! Cô bạn là người phố, mà phố thì thường chỉ làm cho người ta choáng váng bởi những mảng màu, những hình khối bê tông độc lạnh; còn cái thứ cảm xúc khoáng đạt và tự do khó gọi tên này, chỉ có thể “gặp” và “chạm” được khi ở ngay đây, vùng núi nước trải dài chân trời này thôi.

Chúng tôi cuốc bộ vòng khắp bến. Nắng mùa đông xiên nghiêng hoe vàng mái tóc cô bạn đồng hành. Những cái lều bán hàng tạp hóa, quán phở tạm bợ, chật chội, dựng bên mép đường bê tông dẫn xuống bến, bắt đầu sửa soạn bàn ghế, hàng hóa để đón khách vào. Dòng người mỗi lúc một đông, gương mặt ai cũng toát lên vẻ sốt ruột, đợi chờ. “Chờ mần chi ở đây rứa mế ơi?”- giọng phố thị “học đòi” giọng núi, hỏi khẽ người già đứng cách đó một quãng. “Chờ thuyền vô bản thôi mà, còn đằng tê, họ chờ thuyền đón cá về.” Sự chờ đợi vẻ như đã thành điều quen thuộc. Lạo xạo không gian chỉ là tiếng chuyện trò rất bé, lẫn giữa bao tiếng động xe cộ đằng xa vọng về.

Tôi nhìn kỹ từng gương mặt xung quanh. Một người đàn ông gùi một gùi hàng nặng trĩu, lèn chặt nào là mì tôm, quần áo ấm, gói kẹo xanh đỏ, lưỡi dao mới sắc lẹm... Cạnh bên là người phụ nữ quàng dải vải đỏ địu con trước bụng, bé con có lẽ chỉ vài tháng tuổi, ngủ ngật ngưỡng trong lòng mẹ. Rồi những người già ở núi, da dẻ đã hằn lên muôn vàn nếp chân chim, vẫn đỏ au như lim, táu giữa rừng. Đông nhất vẫn là đội lái buôn. Sáng nào, họ cũng tập trung về đây để chờ thuyền đánh cá qua đêm. Đội này thì dễ nhận ra, bởi vẻ tất tả bàn tính, bởi những cuộc điện thoại nhí nhoắng...

Mải lan man nghĩ ngợi, bỗng bên tai ồ lên những tiếng reo mừng. Thuyền về! Tôi láo nháo hướng mắt tập trung về phía hồ. Ánh nắng ngược chói vào mắt, mặt hồ rẽ sóng xôn xao những đoàn thuyền nhỏ bé đang xuôi dần về phía bến. Bến thượng lưu chộn rộn hẳn lên! Thuyền cập bến rồi, cơ man ăm ắp cá mương, nhảy tí tách trong lòng thuyền. Chúng tôi háo hức chạy nhoắng lên bến, ngó nghiêng bên này một tí, bên kia một tí, tự “trẻ con hóa” mình một chút vì mấy khi trúng dịp mục sở thị sự ưu đãi của lòng hồ dành cho con người như thế. Mà chẳng phải chỉ chúng tôi, cả bến nhộn lên tiếng cười nói, dẫu có người chẳng phải bán buôn gì. Ồ thuyền bé mà trĩu đáy thủy sản. Có những thuyền may mắn đánh được cá rô phi to bằng 2 bàn tay, rồi cá trôi, trắm, chép... nặng tới 3 - 4 kg. Loáng thoáng tiếng trả giá sát sạt: “Trắm này lấy buôn 100 nghìn/ kg nhé!” Rồi bĩu môi “chê” đắt, rằng cá còm chẳng mấy giá... Cánh lái buôn với chủ thuyền cứ thế làm rộn rịp cả bến thượng lưu.

Vẻ bình lặng hơn sau những háo hức hiếu kỳ ban đầu, là những người dân bản địa tiến về phía các thuyền chở người. Ai đi đâu, về đâu, đều được chủ phương tiện đưa lên thuyền, mặc áo phao cẩn thận trước khi thuyền ngược lòng hồ. Mỗi chiếc thuyền cập bến là đồng bào các dân tộc kèm theo nhiều bao bì đựng lâm sản phụ từ núi rừng ra bán cho lái buôn. Có tiền, bà con bước lên những chiếc xe khách loại nhỏ, ra chợ Hòa Bình mua sắm đồ dùng. Chúng tôi tìm đến vợ chồng ông Toàn bà Hoàn, là người bản địa, chuyên buôn bán hàng hóa ở đây từ khi lòng hồ tích nước, bởi vậy, việc buôn bán ở bến này gần như hoàn toàn do vợ chồng bà làm chủ. Bà Hoàn vóc người thấp đậm, nước da trắng, luôn nở nụ cười tươi trên khuôn mặt phúc hậu và khá nhanh nhẹn trong việc buôn bán.

Trong cái quán nhỏ thưng bằng tấm liếp nứa của ông bà có nhiều lâm sản phụ chất đống sau những ngày thu mua của bà con. Bà Hoàn cởi mở: Mùa nào thứ ấy, nào hạt bo bo, nấm rừng (giống nấm linh chi), bông đót, măng khô... bà con hái từ rừng sâu về, vận chuyển ra đến đây, bà thu mua hết. Bao nhiêu vốn liếng, bà dồn vào đây để buôn bán kiếm lời, cũng là tạo điều kiện cho bà con vùng trong có nguồn thu nhập. Vợ chồng bà Hoàn còn có cái quán bán hàng tạp hóa trên xà lan, neo cố định dưới bến, làm nơi buôn bán trao đổi hàng hóa hàng ngày. Hàng hóa có nước giải khát, bánh kẹo, mì chính và một số hàng hóa khác... phục vụ nhu cầu tiêu dùng cho đồng bào vùng trong. Nhiều chủ quán bán lẻ trong bản sâu, hàng ngày chạy thuyền ra mua sỉ của bà để kịp về phục vụ bà con.

Chúng tôi “nháy” nhau “đánh” một tô mì tôm trứng gà hôi hổi trước khi dấn bước vào hành trình lòng hồ kỳ bí. Ai đã nói “có thực mới vực được đạo”, quả đúng lắm! Nhất là cái hồ Thủy điện Bản Vẽ này, khi vừa trình bày dự định khám phá một “tour” thật hẳn hoi, các anh lãnh đạo huyện Tương Dương đã “bật mí” về cái sự lạnh giá và rất nhiều điều bí ẩn, ít người biết đến. Thông tin cơ bản thì ở đó, ngoài nhiệm vụ chính là cung cấp điện năng cho quốc gia với công suất 320 MW, mặt sông còn là tuyến giao thông đường thủy rất thuận lợi. Trước đây, khi chưa có công trình Thủy điện Bản Vẽ, giao thông đường thủy từ Thị trấn Hòa Bình vào Mai Sơn phải mất 12 giờ đồng hồ, vượt qua bao thác ghềnh, hõm xoáy nguy hiểm. Từ khi lòng hồ tích nước, từ bến thượng lưu đến xã Mai Sơn chỉ mất 5 tiếng đồng hồ, thuyền lướt băng băng trên mặt nước rộng phẳng lặng, an toàn. Ấy là chưa kể đến tiềm năng để phát triển kinh tế bằng nuôi cá lồng, chăn nuôi trang trại dọc hai bên lòng hồ...

Trên diện tích gần 5 nghìn ha mặt nước của lòng hồ, hiện nay đã có một số người dân được sự hỗ trợ của nhà nước, làm lồng nuôi thí điểm các loại cá đặc sản: cá lăng, cá bọp, cá chiên. Ngoài ra, hồ còn là nơi để cư dân hành nghề đánh bắt thủy sản bằng cách thả lưới, câu, cung cấp thực phẩm tươi sống, chất lượng cao cho người tiêu dùng trên địa bàn miền núi này. Hồ không có ốc đảo, nhưng hai bên lòng hồ đã có những người chọn được vị trí tự nhiên thuận lợi để đầu tư chăn nuôi gia súc, gia cầm theo hướng kinh tế trang trại, ngoài mang lại hiệu quả kinh tế cho người dân, còn tạo điểm nhấn cho khách du lịch dừng chân tham quan.

Nhìn ra mặt hồ mênh mông, chúng tôi ánh lên niềm tin về tiềm năng dồi dào du lịch sinh thái, khi mênh mang dọc hai bên hồ là ngút ngát rừng nguyên sinh và những hang động, những mỏm đất nổi lên sau bao biến động tầng địa chấn... Đi thuyền trên lòng hồ Thủy điện Bản Vẽ kì vĩ, ta được ngắm cảnh sông nước, mây trời, được dừng chân thưởng thức những món cá nướng được đánh bắt từ hồ, thơm lừng bên nếp nhà sàn của đồng bào Thái, Khơ mú. Trong suốt chiều dài của lòng hồ, chúng ta còn được dừng chân ở 8 bản là đồng bào Thái, Khơ mú, Mông của 4 xã: Lượng Minh, Nhôn Mai, Hữu Khuông và Mai Sơn. Ở đó, đồng bào các dân tộc còn lưu giữ nghề thủ công truyền thống đan lát, dệt vải... Đặc biệt, nếu ngược lên xã Mỹ Lý của huyện Kỳ Sơn, chúng ta sẽ bắt gặp nghề truyền thống đóng mới và sửa chữa thuyền 3 lá của đồng bào các dân tộc, là phương tiện chính dùng để vận tải hành khách trên lòng hồ từ trước đến nay.

Theo thống kê của Phòng Công thương huyện Tương Dương, hiện nay, trên lòng hồ Thủy điện Bản Vẽ, luôn có từ 60 - 70 chiếc thuyền 3 lá, gắn máy công suất từ 18 - 24 mã lực, làm nghề vận chuyển khách ngược xuôi. Những người làm nghề lái thuyền ở đây đều là người bản địa, hầu hết đã được cấp chứng chỉ lái thuyền, trên thuyền còn được trang bị áo phao cứu sinh. Chưa kể, trên hồ còn có khoảng 50 chiếc thuyền dân sinh, dùng để vận chuyển hàng hóa, đánh bắt cá. Dọc hai bên lòng hồ, ta còn được dừng chân ngắm nhiều vẻ đẹp hoang sơ, kì vĩ: hang Thằm Nặm, Thằm Kèo ở Hữu Khuông, hay đến bản Pủng, xã Nhôn Mai có thể khoát bàn tay xuống khe nước nóng.

Nếu có thời gian, khách du lịch có thể ở lại với đồng bào Thái, Khơ mú còn lưu giữ được các bản sắc văn hóa truyền thống độc đáo ở Huồi Tố, xã Mai Sơn. Với những thế mạnh về cảnh quan, ẩm thực đó, năm 2011, UBND huyện Tương Dương đã lập Đề án bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc gắn với phát triển du lịch giai đoạn 2011 - 2015, định hướng đến năm 2020, trong đó lấy lòng hồ Thủy điện Bản Vẽ làm điểm nhấn...

Nghe vậy, càng làm chúng tôi thêm háo hức. Sau một đêm ngủ trên bến thượng lưu của lòng hồ, chúng tôi bắt đầu một cuộc hành trình dài ngày trên chiếc thuyền 3 lá, rẽ sóng đến với những điều kì bí, hoang sơ và cộng đồng các dân tộc để khám phá, mang đến cho bạn đọc một góc nhìn mới, sinh động trong lòng “biển hồ” này.

Còn tiếp
Kỳ 1 - Kỳ 2

Theo Hoàng - Chi (Báo Nghệ An)
Du lịch, GO!

Sunday, December 28, 2014

Homestay Chăm Nhơn Hội mùa cá ra

(BCT) - Gió bấc liu riu thổi là lúc chúng tôi đến Nhơn Hội, An Phú, An Giang, "trụ" tại nhà ông Mach-ly, để hòa cùng cuộc sống đồng bào Chăm nơi đây. Ông Mach-ly cho biết đang "mùa cá ra". Mùa cá ra là lúc nước trên các cánh đồng đầu nguồn sông Hậu (An Giang) rút xuống các kinh rạch, và cá từ trên đồng (cá linh non và các loại cá khác lên đồng sinh sôi nảy nở, sau vài tháng thành cá già) theo đó ra sông, tiếp tục cuộc hành trình tìm về thượng nguồn.

Nói rồi, ông đưa chúng tôi ra một vàm rạch ở Khánh An (An Phú) chứng kiến những hình ảnh thanh bình mà bất cứ du khách nào cũng thích thú trải nghiệm. Nơi này giăng lưới, chỗ kia vãi chài, nơi nọ thả đăng, kẻ chèo xuồng, người vọt vỏ lãi… Nhộn nhịp nhất là khi họ dỡ ngư cụ lên, khuôn mặt rạng rỡ nhìn những con cá quẫy mình tìm đường thoát. Cá linh, cá mè, cá bống tượng, cá hô đất, cá leo, cá lăng… Kẻ mua người bán rộn ràng như ngày hội.

Ông Mach-ly cho biết năm nay nước nhỏ (nước lũ về ít) cá không bao nhiêu, bán ký. Ngày xưa, người ta bán cá bằng giạ, bằng thúng, ăn không hết xẻ khô, làm mắm, nấu nước mắm. Ông cho biết, mùa cá ra kéo dài cả tháng, nhưng rộ nhất vào hai con nước kém là mùng 10 và 25 tháng 10 âm lịch. Hòa tấu khúc sông nước nầy kéo dài từ lúc trời chưa đâm mây ngang đến tận lúc mặt trời sụp bóng.

Ông Mach-ly đưa chúng tôi ra bến nước trước Thánh đường Nhơn Hội (Mas Jid Khoy Ri Yah), nơi có một chiếc ghe máy đang đậu. Đó là loại ghe lạ mắt, mũi cong, khắc sơn hoa văn khá sặc sỡ theo phong cách người Chăm. Bà Sari-pháp, chủ ghe cho biết ghe chở được trên 10 người, chạy vòng quanh Búng Bình Thiên khoảng hơn 1 tiếng đồng hồ, giá 300.000 đồng.

Đây là nghề mưu sinh của bà cùng cậu con trai nhỏ. Chồng và các con lớn của bà đang ra đầu vàm, ngã ba, ngã tư, sông rạch để săn bắt cá mưu sinh. Mùa cá ra thu hoạch gấp nhiều lần những tháng khác trong năm. Riêng bà sức yếu nên chọn nghề chạy ghe máy đưa khách du lịch tham quan búng.

Với tiếng Việt lớ lớ, Mach-ly kể: Búng Bình Thiên là một hồ nước thiên nhiên có từ mấy trăm năm, thuộc 3 xã: Nhơn Hội, Quốc Thái và Khánh Bình. Tên gọi có nghĩa "hồ nước trời", nhằm diễn tả sự mênh mông như trời đất của nó. Vào mùa khô, búng rộng trên 200ha, còn mùa nước nổi thì mặt hồ mở rộng thêm 100ha, sâu khoảng 4m. Người dân địa phương thường gọi Búng Lớn - một hồ nước ngọt lớn nhất miền Tây, dấu tích còn lại của thời xa xưa, khi nơi nầy còn là hoang địa với ao đầm giăng khắp.

Theo truyền thuyết, mùa khô hạn cuối thế kỷ 18, Nguyễn Ánh dẫn quân đến. Không có nước ngọt, ông dâng lễ vật cúng tế rồi đâm gươm xuống đất, một dòng nước trào lên, đọng thành hồ nước trong vắt. Hồ ngày một phát triển rộng lớn thành búng như ngày nay. Điểm đặc biệt của Búng Bình Thiên là bất cứ lúc nào, nước trong búng cũng trong xanh, chỉ dâng cao rồi hạ xuống. Từ năm 2012, Quốc khánh 2-9 năm nào chính quyền địa phương cũng thả cá trong búng nhằm bảo tồn, phát triển loài thủy sản. Ghe chầm chậm chạy quanh hồ, vượt qua những nhà bè nuôi cá rô phi bập bềnh sóng nước. Ghe chui qua cầu C3 trên sông Bình Di, đầu ra của búng. Trước mắt chúng tôi hiện tượng lạ kỳ: nước bên đục bên trong. Dulichgo

Rời búng, dài theo đường trải nhựa, mùi nước mắm cá linh nấu tỏa thơm quyến rũ trong đêm dần buông xuống. Cây cối hai bên đường, trong vườn với những căn nhà kiến trúc theo kiểu đồng bào Chăm ẩn hiện. Bước từng bước lên cầu thang gỗ khá cao, chúng tôi lên căn nhà sàn của ông Mach-ly. Sàn nhà láng bóng, đã bày sẵn bữa cơm tối trên tấm vải nhựa lớn. Ê hề những thức ăn đang chờ chúng tôi. Cùng ông và các thiếu nữ con ông, chúng tôi dùng bữa cơm thân mật trong câu chuyện về đồng bào Chăm Nhơn Hội mà ông Mach-ly vui vẻ kể. Đêm, chúng tôi ngủ trên nền sàn nhà khách. Con đường trước nhà im vắng. Thỉnh thoảng tiếng bò rống trong tiếng gió xào xạc lùa qua tán cây đưa chúng tôi vào giấc ngủ dịu êm.

Ẩm thực Chăm Nhơn Hội

Ông Mach-ly nhà ở Búng Bình Thiên (Nhơn Hội, An Phú, An Giang) từng thực hiện các món ăn Chăm cho Công ty Du lịch An Giang. Tại nhà, ông đã tổ chức những bữa cơm Chăm cho nhiều khách phương xa từ hơn hai năm nay.

Mùa cá ra, ông đãi khách bánh xèo. Cá linh sau mấy tháng ở trên đồng lớn mập, cứng xương nên khi làm bánh xèo phải lấy phi lê. Riêng cá linh non đầu mùa nước nổi đổ bánh xèo ăn mới ngon, vì xương mềm. Bánh xèo cá linh gói rau sống vườn nhà cắn miếng nào tê mê đầu răng miếng đó. Cá rô kho trái bứa lạ lẫm khách phương xa. Trái bứa mọc hoang, đặc sản vùng biên nầy, chua thanh, thoảng mùi đất hoang dã. Gỏi bông súng tép đồng cũng hấp dẫn. Cá lóc nướng lửa than ăn kèm rau đồng. Lẩu cá chua. Bữa ăn ngon nhưng khách Việt… buồn vì chẳng có bia, đừng nói rượu nhấm nháp vì đạo Hồi cấm tuyệt đối. Ông nói, với 5 món, ông lấy 500.000 đồng/10 khách.

Mach-ly cho biết nếu được báo trước 1 ngày, ông sẽ bày một bữa cơm thuần Chăm. Cà púa là món thể hiện văn hóa ẩm thực Chăm. Để chế biến món này, người ta cắt tiết con vật đúng quy định đạo Islam (Hồi) rồi mới xả thịt. Phần nạc cắt từng cục (thịt bò) vuông, rửa sạch, ướp gừng sả, xào săn. Trộn với hỗn hợp gia vị khô đặc biệt, để thịt thấm, cho vào chảo xào với hành, tiêu hột. Khi thịt săn bóng, khô nước thì đổ nước cốt (làm sẵn) ngập mặt. Sau đó cho dầu ăn vào chảo cùng bột màu, lá cà ri, xào thơm, gạn bỏ bột và lá, cho thịt vào. Bấy giờ đã có món cà púa màu cánh gián, thơm lừng. Dọn ra bàn bốn người ăn, một dĩa cà púa có 4 miếng thịt, ăn cùng gỏi chua và rau dưa, có khi thêm tô nước súp. Dulichgo

Cà ri – cơm nị là món chính, là cái hồn của bữa tiệc trong gia đình, họ tộc. Phải là người chuyên nghiệp mới dám nấu cơm nị. Cơm nấu bằng gạo lúa sóc (đặc sản Thất Sơn, An Giang), vo sạch, để ráo. Dừa khô nạo nhuyễn, vắt nước, thắng bồng con. Cho chút dầu ăn vào nồi, đun nóng, cho củ hành tím bằm vào, đảo đều đến khi có màu vàng ánh thì cho bơ vào, khử bột cà ri rồi cho gạo vào, xào đều tay. Sau đó cho nước dừa thắng bồng con vào cùng một ít muối, bột ngọt, trộn đều đến khi gạo gần cạn nước thì đậy nắp nồi, để lửa riu riu đến khi cơm chín, có màu vàng nghệ đẹp mắt. Cơm nị ăn với các món quay, nướng, xào… nhưng hợp nhất là ăn với cà ri – như cách người Việt thường nấu, nhưng bột mua từ Malaysia. Những hạt cơm khô mềm dẻo tơi quyện cùng những miếng da và thịt dê đẫm hương vị cà ri giòn dai nhưng không mềm. Món ngon còn nhờ những miếng dưa cải xắt nhỏ, vị mặn chua của muối ớt chanh tươi.

Theo Cát Lộc (Báo Cần Thơ)
Du lịch, GO!

Tuesday, December 23, 2014

Bàu Tró: Di chỉ truyền kỳ

Khách du lịch đến thành phố Đồng Hới, Quảng Bình thường nghĩ đến một dải bờ biển thơ mộng, nơi có bãi tắm Nhật Lệ đẹp nổi tiếng. Không mấy ai biết rằng Đồng Hới có một hồ nước ngọt nằm ngay cạnh biển Nhật Lệ, chỉ cách có hơn 100 mét, đó là hồ Bàu Tró. Đây là một thắng cảnh, vừa là một vùng di tích với những di chỉ khảo cổ học của người Việt cổ để lại.

Bàu Tró có vị trí tại phường Hải Thành, thành phố Đồng Hới ngày nay, tương truyền là bàu nước ngọt sạch nhất, sạch hơn nước giếng của người dân trong vùng. Khi chưa có nhà máy nước, người dân Đồng Hới thường uống nước Bảo Ninh chở sang. Nơi đây hoang vắng, chưa có dân cư và là nơi có miếu Long Vương, thờ thần Hà Bá nổi tiếng linh thiêng. Hồ ngày ấy được giữ sạch sẽ, người dân chỉ đến đây lấy nước về dùng vào việc cúng giỗ chứ ít khi lấy nước Bàu Tró về dùng hàng ngày.

Hiện này, hồ Bàu Tró là nguồn cung cấp nước ngọt cho thành phố Đồng Hới và vùng lân cận với trữ lượng nước gần chục triệu mét khối. Nguồn nước này được khép kín giữa lòng động cát vàng, chỉ cách biển Đồng Hới và vùng cửa sông khoảng nửa cây số. Người địa phương cho rằng thiên nhiên đã ưu ái chắt lọc và ban tặng cho họ một nguồn nước quý giá mà không nơi nào có được. Từ thời Pháp thuộc, người Pháp đã đặt máy bơm dẫn nước vào thị xã Đồng Hới (nay là Thành phố Đồng Hới). Dù mùa nắng, thời tiết có khô hạn đến đâu, hồ cũng luôn đầy nước. Cảnh quan Bàu Tró khá đẹp, bao quanh hồ là rừng cây xanh, tạo nên khung cảnh lãng mạn, thật tĩnh lặng và u tịch.

Mùa hè năm 1923, nhà khảo cổ học người Pháp Etienne Pette đã đến Bàu Tró khai quật một gò cát cạnh hồ và đã phát hiện có dấu vết của người xưa. Và tên gọi: Bàu Tró, một di chỉ của người Việt cổ cũng bắt nguồn từ đó. Nhà khảo cổ học Etienne Pette đã khẳng định người nguyên thủy đã đến cư trú quanh hồ Bàu Tró từ ngàn xưa và đã để lại dấu tích từ trong lòng cát. Những hiện vật thu được từ di chỉ khảo cổ học này hiện còn lưu trữ tại Viện Bảo tàng lịch sử Việt Nam gồm: 46 rìu đá, 140 mảnh tước, 2 hòn đá bằng thạch anh, 1 dụng cụ đá dùng để ép, 14 bàn nghiền hạt, 1 chì lưới, một đốt xương sống cá và vỏ sò, mảnh gốm...

Nhà khảo cổ cho rằng người tiền sử đã để lại các dụng cụ và rất nhiều vỏ ốc là di tích các bữa ăn của họ. Khi nền văn hóa của người nguyên thủy đã chuyển xuống ven biển, ven sông có nghĩa là họ không còn thích nghi ở trong hang động nữa. Nền văn hóa đồ đá mới phân bố khắp nơi trên đất Quảng Bình, từ bắc vào nam, từ núi rừng xuống đồng bằng. Di chỉ Bàu Tró còn khẳng định thêm một điều bí ẩn là ở thời hậu kỳ đồ đá mới, người tiền sử Bàu Tró rất thạo nghề đánh cá biển và việc tìm thấy những mũi tên bằng xương cá chứng tỏ nghề săn bắn lúc này cũng khá phát triển.

Cũng tại Bàu Tró, mùa xuân năm 1980, Khoa Khảo cổ Trường đại học Tổng hợp Huế (nay là Trường đại học Khoa học Huế) lại khai quật di chỉ này một lần nữa. Địa điểm khai quật nằm phía tây nam Bàu Tró, cách hố khai quật của nhà khảo cổ học Etienne Pette hơn 100m về phía tây. Hiện vật thu được gồm: 31 rìu bôn đá, 17 bàn mài, 7 chày nghiền, 3 mũi nhọn, 1 vòng, 2 phiến tước, nhiều cục thổ hoàng bị mài vẹt từ nhiều phía, 11.972 mảnh vỡ đồ gốm của nồi, niêu, bình, vò, bát, đĩa... được trang trí bằng hoa văn đấu thừng, hoa văn khắc vạch có màu đỏ, màu đen ánh chì. Dulichgo

Và điều vô cùng lý thú là nếu năm 1923, nhà khảo cổ  Etienne Pette chỉ tìm thấy loại di chỉ cồn Cò Điệp thì nay Khoa Khảo cổ Trường đại học Tổng hợp Huế tìm thấy loại di chỉ mới đó là di chỉ Cồn Đất tại Bàu Tró. Với ý nghĩa khoa học to lớn của di chỉ Bàu Tró, các nhà nghiên cứu đã lấy tên này để đặt tên cho nền văn hóa hậu kỳ đá mới, gồm các di chỉ phân bố vùng ven biển Nghệ-Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên-Huế là “Văn hóa Bàu Tró”.

Cũng có nhiều ý kiến cho rằng, Văn hóa Bàu Tró là nền văn hóa tiêu biểu của miền Trung, là một trong những cội nguồn nảy sinh văn hóa Đông Sơn phía Bắc và văn hóa Sa Huỳnh ở phía Nam. Điều này còn chứng tỏ cư dân tiền sử Quảng Bình có sự giao lưu vùng rộng lớn từ Bắc đến Nam Trung bộ, phát triển liên tục từ thời kỳ đồ đá đến đồ đồng, đồ sắt. Dulichgo

Đứng trên đồi cát làng Hải Thành bạn có thể nhìn thấy Bàu Tró và biển chỉ còn một khoảnh khắc nữa là chan hòa vào nhau. Ấy thế mà mạch nước ở đó vẫn cứ trong văn vắt và ngọt mát đến mê hồn.

Bàu Tró là nguồn nước ngọt duy nhất cung cấp nước sinh hoạt, nước nông nghiệp cho toàn bộ vùng Đồng Hới nhiễm mặn. Thuở trước, Bàu Tró thật hoang vu, thật nguyên sơ với một vùng phi lao cổ thụ, với rất nhiều chim chóc, bay nhảy, bơi lặn.

Bên cạnh Bàu Tró có một cái nghè thờ một vỏ lúa bằng gỗ khá to. Có rất nhiều chuyện kể dân gian xung quanh cái bàu kỳ lạ này, trong đó có chuyện cho rằng bàu này ” không đáy” mà thông với một bàu nước ngọt khác đó là Bàu Sen, cách Đồng Hới ngót 30 km đường đất! Đó là cách lý giải dân gian về khả năng “vô tận” của nguồn nước ngọt nhỏ nhoi, quí hiếm nằm lọt vào giữa ba bề bốn bên là nước mặn.

Ngày nay, Bàu Tró không còn cảnh hoang vu, từ những động cát làm thành trì cho hồ đã có một phường dân cư sinh sống. Bàu Tró cũng đang được đặt vấn đề bảo vệ nghiêm ngặt vì nó chẳng những là một di chỉ khảo cổ học, một thắng cảnh nổi tiếng mà còn là nguồn nước sinh kế cho một vùng cư dân trù phú.

Cùng với những di chỉ và truyền kỳ, Bàu Tró nay được Nhà máy cấp nước Đồng Hới quản lý (trực thuộc Công ty TNHH MTV Cấp thoát nước Quảng Bình) có công suất thiết kế cung cấp 9.000 m3 nước/ngày đêm.

Hồ Bàu Tró cùng với hồ Phú Vinh cung cấp nước sinh hoạt cho nhân dân TP.Đồng Hới và một số xã, thị trấn của huyện Quảng Ninh. Tuy nhiên, từ năm 2003 đến nay, hồ Bàu Tró chỉ được khai thác cầm chừng với công suất 3.000m3 nước/ngày đêm (phục vụ cung cấp nước sinh hoạt cho khoảng 20% dân cư TP.Đồng Hới, số còn lại đều lấy nước từ hồ Phú Vinh).

Cho dù là những di chỉ với những câu chuyện kỳ bí hay là hồ nước ngọt hàng ngày cung cấp nước sinh hoạt cho nhân dân TP. Đồng Hới thì Bàu Tró vẫn là địa danh có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, rất cần được bảo vệ một cách khoa học trước nguy cơ bị ô nhiễm ngày càng tăng trong tiến trình đô thị hóa hiện nay.

Du lịch, GO! tổng hợp từ báo Quảng Bình và rất nhiều nguồn khác

Sunday, December 14, 2014

"Đâu Mâu vi bút, Hạc Hải vi nghiên"

(QBO) - Ở vùng giữa tỉnh Quảng Bình có một hệ sơn thuỷ rất địa linh, đó là núi Đâu Mâu cao như hình “cây bút” và phá Hạc Hải rộng như một “nghiên mực” lớn.

Núi Đâu Mâu được sách Đại Nam nhất thống chí của Quốc sử quán triều Nguyễn mô tả như sau: “Ở cách huyện Phong Lộc 22 dặm về phía tây, thế núi hùng dũng cao vót, đứng sững ở bên trời, trông như hình đâu mâu nên gọi tên này. Tương truyền cạnh núi có giếng, trong giếng có giống cá lạ; chân núi kề sông cái, sản giống cua đá, hồi đầu bản triều đắp luỹ dài, trên từ núi Đâu Mâu tức núi này; năm Nhâm Tuất đầu đời Trung hưng, Tây Sơn Nguyễn Quang Toản đem binh Bắc Hà vào cướp, phá luỹ Đâu Mâu, quân ta ở trên núi ném đá xuống, quân giặc chết và bị thương nhiều, liền tan vỡ. Đầu niên hiệu Tự Đức ghi vào điển thờ”. Hiện nay còn có dấu tích luỹ Đâu Mâu trên núi và tấm bia đá (tấm bia đang được để ở Bảo tàng tổng hợp Quảng Bình).

Sách Ô châu cận lục của Tiến sỹ Dương Văn An viết năm 1555 cũng có chép về núi Đâu Mâu nhưng cũng chỉ ghi lại như Đại Nam nhất thống chí, ngắn gọn hơn.
Núi Đâu Mâu cách cầu Long Đại trên đường Hồ Chí Minh về phía tây theo đường chim bay khoảng 10 cây số, phía tây núi Mồng Gà (Đa Mao) và phía đông nam núi U Bò, ở trong quần thể núi cao của dãy Trường Sơn trùng điệp, phía nam là núi Đông Then. Núi Đâu Mâu có đỉnh cao nhất là 668 mét, và các đỉnh nhỏ thấp hơn. Do núi cao như vậy nên dân gian mới có câu ví “Đâu Mâu vi bút”.

Núi Đâu Mâu ăn liền với các núi cao của dãy Trường Sơn hùng vỹ càng làm cho sơn hệ núi non của Quảng Bình thêm phong phú, gắn liền với những huyền thoại hấp dẫn về sông núi Quảng Bình, như núi Thần Đinh, sông Nhật Lệ, càng làm cho tỉnh nhà thêm phần địa linh nhân kiệt, càng làm cho chúng ta thêm yêu quê hương mà ra sức phấn đấu để làm cho tỉnh nhà ngày càng giàu mạnh.

Núi Đâu Mâu có hệ động vật, thực vật đa dạng phong phú. Các loài động vật gồm: hươu, nai, chồn, khỉ, cáo, voọc, sóc, cầy, trước đây còn có hổ, báo,... các loài bướm đẹp, các loài côn trùng, các loài chim,... Các lòai thực vật gồm các loại gỗ quý: lim, táu, sến, gụ, nghiến,... các loài hoa rừng: phong lan, mai, bông trang,...
Cách núi Đâu Mâu gần 20 cây số về phía đông đông nam, có một vùng đầm phá rộng lớn cùng với sông Kiến Giang, đó là phá Hạc Hải (Thiển Hải, tức Biển Cạn), cổ nhân ví Hạc Hải như cái “nghiên mực” bên cạnh “cây bút” Đâu Mâu và có câu Đâu Mâu vi bút, Hạc Hải vi nghiên, là biểu trưng của sự học hành. Dulichgo

Đâu Mâu-Hạc Hải đã tạo nguồn cảm xúc cho các mặc khách tao nhân xuất khẩu thành thơ:
Bể Hạc ai mài xanh sắc nước
Non Mâu tô điểm vẻ da trời.

Phá Hạc Hải ở phía đông nam Võ Xá, bên phía tây đường Quốc lộ số 1A, thuộc xã Hồng Thuỷ và Gia Ninh. Phá kéo dài theo phương tây bắc-đông nam, dài khoảng 6-7 cây số, rộng 1-2,5 cây số, diện tích khoảng 12 cây số vuông, bắt đầu ở Mỹ Trung trở về phía đông nam.

Sách Đại Nam nhất thống chí của Quốc sử quán triều Nguyễn đã mô tả phá Hạc Hải và gọi là phá Thạch Bàn, như sau: “Ở cách huyện Lệ Thuỷ 14 dặm về phía  bắc, có tên là Thiển Hải, cũng gọi là Bình Hồ, do nước từ các nguồn Yên Sinh và Cẩm Lý đổ vào, trăm sông tụ hội, mọi nhánh đổ về, gọi là Hạc  Hải, phía đông bắc từng động cát chập chồng, phía tây bắc vạn núi chắn ngang, ở giữa thì mặt nước mênh mông, chỗ sâu chỗ cạn,  có một đường lạch rất sâu, thuyền bè đi  lại cần phải đề phòng sóng gió; hạ lưu hợp với sông Mỹ Hương rồi đổ ra biển.

Sách An Nam chí chép: “Thiển Hải ở huyện Nha Nghi, sóng biếc mênh mông, cây lau rậm rạp, thuyền chài tụ tán, có thể làm nơi du ngoạn của một phương". Sách ấy lại nói: “Sông Bồ Đài phát nguyên từ Lão Qua, chảy qua phía đông huyện Bồ Đài, chia dòng chảy vào Thiển Hải, lại vào sông Hoá Châu, sông có thể đi thuyền được, có lẽ chỉ phá này”. (Thiển Hải tức là biển cạn). Như vậy sách An Nam chí có sự nhầm lẫn mà Đại Nam nhất thống chí cũng ghi chú là sông Bồ Đài ở tỉnh Thừa Thiên mà Thiển Hải đây là phá của Thừa Thiên chứ không phải của Quảng Bình.

Phá Hạc Hải ở giữa có đường lạch tức là sông Kiến Giang, phá ở hai bên sông. Nước của phá Hạc Hải là nước lợ, rất thích hợp với các loài thuỷ sản nước lợ như: cá bống, cá úc, cá buôi, cá leo, cá chai,..., các loài tôm đất, tôm bạc, tôm tú, tôm rằn, tôm tít, cua, rạm,... Đặc biệt rạm trong mùa tháng tư âm lịch rất nhiều. Dân gian có câu: “rạm trồi thì lụt, rạm tụt thì mưa”; nếu rạm xuất hiện trước rằm tháng tư thì sẽ bị lụt, nếu rạm xuất hiện sau rằm thì chỉ mưa to mà không bị lụt. Rạm là thực phẩm rất ngon, chế biến làm canh, rang, kho đều tốt, bổ.

Thuỷ sản ở phá Hạc Hải phong phú đã nuôi sống nhân dân trong vùng. Một loài thực vật quan trọng khác là rong rêu, ở đáy phá rất nhiều, dân thường đi thuyền, lặn xuống lấy về làm phân xanh ủ với phân chuồng trồng lúa, hoa màu rất tốt, không chỉ cho dân trong vùng mà cả ở Bảo Ninh, Đồng Hới.

Do phong thuỷ của núi Đâu Mâu và phá Hạc Hải như vậy, cho nên dân vùng hai huyện Quảng Ninh và Lệ Thuỷ đã phát triển sự học, trước đây có 4 làng văn vật là “Văn, Võ, Cổ, Kim”, xứng đối với huyện Quảng Trạch và Tuyên Hoá có 4 làng văn vật “Sơn, Hà, Cảnh, Thổ”. Làng Văn La có một vị đậu Phó bảng là Hoàng Trọng Đài, một danh nhân Hoàng Kế Viêm yêu nước nổi tiếng cả nước, một Thống đốc quân vụ đại thần, một Hiệp biện Đại học sỹ,... cùng với một vị khác làm cho Văn La là làng “song Hiệp biện Văn La” nổi tiếng.

Làng Võ Xá có những nét văn hoá-lịch sử đặc sắc, một vị đậu Phó bảng (Lê Doãn Thành). Làng Cổ Hiền có một vị đậu Tiến sỹ là Lê Hữu Lệ, và có những nét văn vật đáng quý. Làng Kim Nại có một số vị đậu Cử nhân và những nét phong thuỷ, văn hoá rất đáng quý.

Các làng khác trong hai huyện này tuy không được liệt vào các làng văn vật nhưng cũng có nhiều vị học hành đỗ đạt cao như An Xá, Tuy Lộc, Thạch Bàn, Tả Thắng, Xuân Lai, Mỹ Lộc, nhất là làng Phù Chánh (xã Hưng Thuỷ) có gia đình họ Nguyễn Đăng có 2 vị Tiến sỹ và Phó bảng là Nguyễn Đăng Hành và con là Nguyễn Đăng Cư,...
Hệ sơn thuỷ Đâu Mâu-Hạc Hải quả là thế phong thuỷ rất đáng quý của  vùng đất “địa linh nhân kiệt” Quảng Bình.

Theo Ngọc Hiên Hiên (Báo Quảng Bình)
Du lịch, GO!

Saturday, November 29, 2014

Lạ lẫm suối Đôi - Đa Mi

(BTO) - Từ trung tâm thành phố Phan Thiết tới Đa Mi (Hàm Thuận Bắc), men theo con đường đèo dốc quốc lộ 55 thuộc xã Đa Mi, huyện Hàm Thuận Bắc khoảng 60km, nhìn bên phía tay trái đường quốc lộ là hồ Đa Mi rồi tới hồ Hàm Thuận.

Khi tôi được dạo quanh lòng hồ Hàm Thuận bằng thuyền, người lái đò giới thiệu về dòng suối: “Được bắt nguồn từ thác sương mù chảy xuống, có tên là suối Đôi vì ở đây có hai dòng suối chảy xéo qua nhau, cùng đổ ra hồ Hàm Thuận. Người dân quanh đây cũng ít biết, do suối nằm sâu trong rừng, phải đi hết đường bộ, chuyển sang đi khoảng 40 phút đường thủy.’’

Thuyền chúng tôi cập bờ trái của hồ Hàm Thuận, lần theo đến suối Đôi. Nước ở đây rất trong và mát. Không cao như thác Chín tầng, không sâu thẳm như hồ thủy điện Đa Mi, con suối nhỏ song đôi yên ả, lại cạn nên có thể vừa lội nước vừa ngắm phong cảnh hữu tình với đồi núi chập chùng hai bên bờ. Dulichgo

Phóng tầm mắt ra xa có thể nhìn thấy thượng nguồn của dòng suối Đôi với thác sương mù tung bọt trắng xóa, những vệt đá đen là tàn tích còn sót lại của những người đi rừng ghé qua, đốt lửa trại hoặc nướng cá, thưởng thức thành phẩm mà mình đã kiên trì có được từ việc giăng câu.

Đến suối Đôi vào buổi sớm, làn sương từ mặt nước nhẹ tan trong không trung, mặt nước sóng sánh dưới nắng vàng ấm áp. Khi chiều về, hoàng hôn đỏ tía lại bao trùm cả không gian, rồi rải đều từ những ngọn cây xanh thẫm xuống mặt nước tĩnh lặng, khiến quang cảnh ở đây như một bức tranh tuyệt mỹ đầy chất thơ.

Theo Trịnh Thương (Báo Bình Thuận)
Du lịch, GO!

Tuesday, November 25, 2014

Mênh mang sóng nước Đầm Nại

Là một trong 12 đầm phá ven biển nước ta, Đầm Nại là thắng cảnh đặc sắc được thiên nhiên ưu ái ban tặng cho vùng đất khô hạn Ninh Thuận. Phong cảnh sơn thủy hữu tình thu hút đông đảo du khách đến tham quan, thưởng ngoạn. Hệ sinh thái Đầm Nại đa dạng với nhiều loài thủy sản có giá trị kinh tế cao đem lại thu nhập cho hàng ngàn gia đình sinh sống ven đầm.

Với không gian tĩnh lặng, quang cảnh thơ mộng hòa trong nhịp sống thường nhật của ngư dân vùng biển, Đầm Nại làm say đắm lòng người trên những chuyến hành trình về miền đất nắng.

Vốn được thiên nhiên ban tặng với nhiều giá trị khác nhau từ việc khai thác du lịch, đánh bắt và nuôi trồng hải sản, Đầm Nại hiện có diện tích khoảng 1.200 ha và hơn 320 loài thủy hải sản sinh sống. Đây là một trong những đầm phá quan trọng của nước ta và được xem như lá phổi thanh lọc môi trường sinh thái được trong sạch hơn.

Đến với Đầm Nại, du khách không chỉ được hòa mình chìm đắm trong cảnh sắc thiên nhiên vùng sóng nước mà còn có cơ hội khám phá và tìm hiểu cuộc sống thanh bình của một vùng quê ven đầm.


Sáng sớm khi mặt trời ửng hồng vừa chỉ đủ phá tan làn sương mỏng trên đầm, cũng là lúc những chiếc thuyền câu, thuyền đánh cá, chèo thúng,…tấp nập cập bờ để kịp cung cấp những món quà tươi từ biển cả cho dân sống xung quanh.


Bình minh khá đẹp pha chút sương mỏng bồng bềnh, thấp thoáng theo triền núi, tạo nên khung cảnh đầy quyến rũ. Tiếng nói cười rôm rả, tiếng khua thúng chèo thuyền, lời qua tiếng lại trả giá của các tiểu thương hay tiếng thuyền máy inh ỏi cập bến, đủ để cho thấy bức tranh vừa sinh động, vừa giản dị của cuộc sống ngư dần làng chài.

Với tấm lòng mến khách, tính tình thân thiện và hòa nhã. Du khách sẽ dễ dàng liên hệ và xin người dân đánh cá đi theo ra đầm để có không gian tốt hơn cho việc thưởng ngoạn và cơ hội học hỏi cuộc sống lao động của dân làng chài.

Giữa trưa, đến chợ Đầm Nại gần đó để tìm mua hải sản làm quà và hãy tận hưởng vị ngon các loài hải sản vừa được ngư dân đánh bắt. Bạn có thể nhờ người dân chế biến các món để thưởng thức hương vị đặc sản nắng gió. Thưởng thức xong buổi trưa, hãy cùng thưởng ngoạn phong cảnh ngôi chùa cổ Kim Sơn và tịnh tâm, thư thái trong không gian thoáng đãng, yên tĩnh nơi linh thiêng.

Nếu cả ngày chỉ quanh quẩn ở Đầm Nại sẽ khiến cho chuyến tham quan kém phần thú vị. Vì vậy, bạn có thể men về Phương Cựu vi vu giữa vườn cò rộng lớn đang tung cánh trắng xóa khắp vùng.

Ngược thuyền lên Hòn Thiên, Hòn Tịnh thả hồn du dương trong sóng nước mênh mang. Hoặc có thể xuôi về Khánh Tường để tham quan những cánh đồng muối bạt ngàn, để rồi bắt gặp hình ảnh giản dị qua cuộc sống của diêm dân nơi đây.

Buổi chiều, đổi gió qua cầu Ninh Chữ để kịp thời gian ghi hình khoảnh khắc hoàng hôn buông xuống. Một buổi chiều thanh vắng khi mặt trời đã khuất sau núi, những con thuyền nhỏ cũng đang cố gắng đẩy thân mình vào bờ, không gian nơi đây lại càng trở nên tĩnh lặng và đẹp. Những ánh nắng hắt hiu qua từng con thuyền nhỏ như làm toả thêm sức sống tiềm tàn nơi đây.

Đến với Đầm Nại, du khách sẽ được tận hưởng những phút giây yên bình, thanh thản và có thể trút bỏ căng thẳng sau những ngày làm việc. Đầm Nại là một điểm đến hấp dẫn gần đây tại Ninh Thuận.

Theo Xuân Lộc (Vnexpress)
Du lịch, GO!